Quản lý dạy học Ngữ văn tại THCS Đại Lộc, Quảng Nam đáp ứng đổi mới giáo dục

Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý dạy học Ngữ văn tại THCS huyện Đại Lộc, Quảng Nam theo yêu cầu đổi mới giáo dục.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

154
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Cơ Sở Lý Luận về Quản Lý Dạy Học Ngữ Văn THCS

Quản lý dạy học Ngữ văn tại trường THCS là một quá trình tổ chức, điều hành các hoạt động giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện. Quản lý hoạt động dạy học không chỉ tập trung vào truyền tải kiến thức mà còn phát triển năng lực và phẩm chất học sinh. Theo chương trình GDPT 2018, dạy học Ngữ văn cần đáp ứng các yêu cầu về rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ, phát triển tư duy sáng tạo và giáo dục nhân cách. Các yếu tố chủ quan như nhận thức của giáo viên, năng lực quản lý của nhà trường và yếu tố khách quan như điều kiện vật chất, chương trình đều ảnh hưởng đến chất lượng quản lý dạy học Ngữ văn. Để thực hiện hiệu quả, các nhà quản lý giáo dục cần xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá và hỗ trợ các giáo viên trong việc cải tiến phương pháp dạy học.

1.1. Khái Niệm Quản Lý và Quản Lý Giáo Dục

Quản lý là quá trình dự định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động để đạt mục tiêu đặt ra. Quản lý giáo dục cụ thể hóa quá trình này trong lĩnh vực giáo dục, bao gồm quản lý con người, tài chính, cơ sở vật chất và hoạt động dạy học. Nó đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả dạy học Ngữ văn THCS.

1.2. Đặc Điểm của Hoạt Động Dạy Học Ngữ Văn THCS

Hoạt động dạy học Ngữ văn ở THCS có tính chất toàn diện, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Mục tiêu là phát triển kỹ năng đọc, viết, nghe, nói; rèn luyện phẩm chất đạo đức và thẩm mỹ. Quản lý hoạt động này yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, giáo viên và học sinh.

II. Thực Trạng Quản Lý Dạy Học Ngữ Văn THCS Huyện Đại Lộc

Kết quả khảo sát thực trạng tại các trường THCS huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Quản lý dạy học Ngữ văn còn gặp phải các thách thức về nhận thức, phương pháp dạy học và cơ sở vật chất. Mặc dù các giáo viên có nhận thức về tầm quan trọng của dạy học Ngữ văn đáp ứng đổi mới giáo dục, nhưng trong thực tế, quá trình triển khai vẫn gặp khó khăn. Nội dung dạy học chưa được tối ưu hóa theo hướng phát triển năng lực; phương pháp dạy học còn truyền thống, chưa tạo được sự hứng thú cho học sinh. Kiểm tra đánh giá trong dạy học Ngữ văn chủ yếu tập trung vào kiến thức, chưa đánh giá được năng lực thực hành. Yếu tố môi trường dạy học cũng cần được cải thiện để hỗ trợ hiệu quả cho quản lý hoạt động dạy học.

2.1. Thực Trạng Nhận Thức và Mục Tiêu Dạy Học

Cán bộ quản lý và giáo viên có nhận thức về vai trò của dạy học Ngữ văn trong đổi mới giáo dục, nhưng mức độ hiểu biết về quản lý hoạt động dạy học còn hạn chế. Mục tiêu dạy học chưa được xác định rõ ràng theo từng cấp độ, dẫn đến khó khăn trong tổ chức và triển khai quản lý dạy học.

2.2. Thực Trạng Phương Pháp và Hình Thức Dạy Học

Phương pháp dạy học còn mang tính truyền thống, chủ yếu sử dụng thuyết trình, dẫn dắt. Quản lý hoạt động dạy học Ngữ văn cần khuyến khích các phương pháp tích cực hơn. Học sinh chưa được kích thích sự sáng tạo, tư duy độc lập trong quá trình học tập.

2.3. Thực Trạng Kiểm Tra Đánh Giá

Kiểm tra đánh giá trong dạy học Ngữ văn THCS chưa toàn diện, chủ yếu kiểm tra kiến thức, chưa đánh giá đủ về kỹ năng và thái độ. Cần cải tiến công cụ và phương pháp đánh giá để phục vụ quản lý hoạt động dạy học hiệu quả hơn.

III. Nguyên Tắc Xây Dựng Biện Pháp Quản Lý Dạy Học Ngữ Văn

Để nâng cao chất lượng quản lý dạy học Ngữ văn ở THCS, cần tuân thủ các nguyên tắc khoa học. Nguyên tắc đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT 2018 đảm bảo rằng tất cả hoạt động dạy học phải hướng tới phát triển năng lực và phẩm chất học sinh. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ yêu cầu sự phối hợp giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp và đánh giá trong quản lý hoạt động dạy học. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn giúp áp dụng quản lý dạy học Ngữ văn phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường. Nguyên tắc hệ thống liên kết quản lý dạy học với quản lý nhà trường nói chung. Nguyên tắc khả thi và hiệu quả đảm bảo các biện pháp có thể thực hiện được và mang lại kết quả tích cực. Cuối cùng, nguyên tắc đổi mới thúc đẩy các nhà quản lý không ngừng tìm kiếm những cách thức mới để cải thiện chất lượng dạy học Ngữ văn THCS.

3.1. Nguyên Tắc Đáp Ứng Chương Trình GDPT 2018

Các biện pháp quản lý dạy học Ngữ văn phải tuân thủ yêu cầu của chương trình GDPT 2018, hướng tới phát triển năng lực và phẩm chất. Quản lý hoạt động dạy học cần đảm bảo rằng mục tiêu, nội dung, phương pháp đều phản ánh đầy đủ mục tiêu chương trình.

3.2. Nguyên Tắc Đảm Bảo Tính Đồng Bộ và Thực Tiễn

Quản lý dạy học Ngữ văn phải đảm bảo sự liên kết giữa các yếu tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp, kiểm tra đánh giá. Đồng thời, các biện pháp phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, giáo dục của địa phương, không áp đặt một cách cứng nhắc.

IV. Các Biện Pháp Quản Lý Dạy Học Ngữ Văn THCS Đáp Ứng Đổi Mới Giáo Dục

Để cải thiện quản lý dạy học Ngữ văn THCS, cần triển khai các biện pháp toàn diện. Thứ nhất, nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của dạy học Ngữ văn trong đổi mới giáo dục thông qua các hội thảo, tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm. Thứ hai, cải tiến nội dung dạy học để phù hợp với yêu cầu phát triển năng lực, giảm tải kiến thức thừa, tăng cường rèn luyện kỹ năng thực hành. Thứ ba, đổi mới phương pháp dạy học hướng tới các phương pháp tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, khuyến khích hoạt động hợp tác, dự án, giải quyết vấn đề. Thứ tư, hoàn thiện hệ thống kiểm tra đánh giá để đánh giá toàn diện năng lực, không chỉ kiến thức mà còn kỹ năng và thái độ. Thứ năm, tạo môi trường dạy học lý tưởng bằng cách cải thiện cơ sở vật chất, công nghệ, tài liệu dạy học. Cuối cùng, xây dựng cơ chế giám sát, hỗ trợ để đánh giá hiệu quả quản lý dạy học và cung cấp hỗ trợ kịp thời cho giáo viên.

4.1. Nâng Cao Nhận Thức và Đổi Mới Nội Dung Dạy Học

Quản lý hoạt động dạy học Ngữ văn bắt đầu từ nâng cao nhận thức của đội ngũ sư phạm. Tổ chức các chuyên đề, hội thảo về dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực. Đồng thời cải tiến nội dung dạy học để tập trung vào các kỹ năng ngôn ngữ thực tiễn, văn học và kỹ năng sống.

4.2. Đổi Mới Phương Pháp và Kiểm Tra Đánh Giá

Khuyến khích sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong quản lý dạy học Ngữ văn như học tập hợp tác, dạy học dự án. Kiểm tra đánh giá phải đa dạng, bao gồm kiểm tra thường xuyên, định kỳ, kỹ năng thực hành để phản ánh đầy đủ năng lực học sinh.

4.3. Tạo Môi Trường và Giám Sát Hiệu Quả

Cải thiện cơ sở vật chất, công nghệ, tài liệu dạy học để hỗ trợ hoạt động dạy học Ngữ văn THCS. Xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ và cung cấp phản hồi để hỗ trợ giáo viên trong quản lý dạy học hiệu quả.

18/12/2025
Quản lý hoạt động dạy học môn ngữ văn tại các trường trung học cơ sở huyện đại lộc tỉnh quảng nam đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Vào nửa đầu thế kỷ XX, Tomoko Takahashi (2020) (Nhật Bản) đã nêu lên quá trình phát triển của giáo dục tương ứng với nó là sự thay đổi vai trò của người thầy trong quá trình giáo dục, dạy học. Dạy học phải hướng vào người học, dạy học tích cực, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học.

Xu thế dạy học hiện nay hoàn toàn phù hợp với tư tưởng này. Trên thế giới, theo Duke, N. (2002) trong công trình nghiên cứu Competenc Based Education and Training. Myths and Realities (tạm dịch: Giáo dục và đào tạo tiếp cận năng lực.

Huyền thoại và thực tế) đã khẳng định rằng: dạy học Ngữ văn theo tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển tại Mỹ vào những năm 1970; tiếp đó xu hướng này đã bùng nổ mạnh mẽ trong việc xây dựng CTGD mới những năm 1990 ở Mỹ, Anh, New Zealand, xứ Wales, Australia, Canada, Phần Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia v. Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ này là do rất nhiều học giả xem tiếp cận năng lực là “cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu” [29, tr. Nhận định chung về sự phát triển của day học Ngữ văn theo tiếp cận năng lực người học, trong bài báo Competency identification, modeling and assessment in the USA (tạm dịch: Năng lực – nhận diện, mô hình hoá và đánh giá ở Hoa Kỳ) của tác giả Rogacheva, Y. (2021) viết: “Những quan tâm đến cách tiếp cận dựa trên năng lực đang tăng lên.

Những người chuyên làm công tác đào tạo và phát triển đang sử dụng mô hình năng lực để xác định một cách rõ ràng những năng lực cụ thể của từng tổ chức để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ và thống nhất các khả năng của cá nhân với các năng lực cốt lõi của tổ chức. Các nhà giáo dục và các nhà hoạch định chính sách đang sử dụng các mô hình năng lực như là những phương tiện để xác định một cách rõ ràng và để gắn kết những đòi hỏi của thực tiễn với các chương trình giáo dục và đào tạo” [26, tr. Công trình “Đọc sách như một nghệ thuật” hoặc “Phương Pháp đọc sách hiệu quả” của Jackson, MJ, Gallis, HA, Gilman, SC, Grossman, M., Holzman, GB, Marquis, D. & Trusky, SK (2007) [30] đã bàn bạc khá rộng về đọc văn bản.

Phần đọc văn bảnvăn chương chưa được nghiên cứu chi tiết và đi sâu nhưng tác giả đã giải quyết vấn đề quan niệm mới về cách đọc để học và cách học đọc, để tiếp thu thông tin và hiểu biết về nội dung văn bản. Đóng góp chính của M. Adler là trình bày rõ các thao tác, kỹ năng và kinh nghiệm đọc hiểu nói chung. (2002) trong cuốn sách “Lý luận và viết tốt” đã đi sâu vào các chiến lược đọc và hồi ứng trong đọc tác phẩm văn chương.

Dietsch cho rằng “khi đọc người ta phải dùng kinh nghiệm cùng với việc giải thích, suy luận, đánh giá để tạo ra ý nghĩa” [29]. Theo hai tác giả Denyse Tremblay (2002) thì quá trình đọc hiểu trải qua 3 bước. Một là trước khi đọc đi liền với suy nghĩ và dự đoán. Hai là trong khi đọc kèm theo với nó là hoạt động tưởng tượng ra một bức tranh trong tâm trí và đặt ra những câu hỏi.

Bước cuối cùng là sau khi đọc bao gồm việc trình bày lại những suy nghĩ để kết nối và đọc lại. Quá trình này nhắc nhở bạn đọc HS xem trọng việc tự giác quản lý theo dõi việc đọc của họ [28, tr. Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin khoa học và công nghệ, những tư tưởng trên không những vẫn giữ nguyên giá trị của nó mà còn được tiếp tục kế thừa và phát triển. Giáo dục của thế giới đã trải qua ba cuộc cải cách, theo đó là cuộc cải cách về giáo dục.

Đặc biệt, cuộc cải cách lần thứ hai vào những năm 1950 và cuộc cải cách lần thứ ba vào những năm 1980 đã tập trung vào vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của người học. Nghiên cứu trong nước Tác giả Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường trong tài liệu “Lý luận dạy học hiện đại - Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học” đã đề cập: “Giáo dục hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học. Giáo dục hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp” [9, tr. Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.

Khác với chương trình hướng nội dung, chương trình dạy học hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của học sinh. Theo tác giả Trần Thị Kim Dung, “Đánh giá năng lực học sinh trong dạy học môn Ngữ văn ở THCS - nhìn từ mục tiêu dạy học” là đánh giá năng lực tiếp cận theo hướng phát triển năng lực người học, đòi hỏi chương trình giáo dục phổ thông phải xuất phát từ các năng lực thiết yếu cần có trong cuộc sống hiện tại và tương lai đối với mỗi học sinh, để từ đó đề xuất các lĩnh vực, hoạt động học tập hữu ích. Khi chương trình, sách giáo khoa đã xác định theo hướng tiếp cận năng lực, việc đánh giá kết quả của học sinh cũng phải bám sát hướng này.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập tới xu hướng đánh giá các năng lực đặc thù của môn Ngữ văn ở THCS được xem xét, đối chiếu từ góc độ của mục tiêu môn học hiện hành [10, tr. 7 Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn trong nghiên cứu “Đổi mới tư duy tổ chức dạy học Ngữ văn nhằm thực hiện mục tiêu “thỏa mãn nhu cầu phát triển” và “phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân” đề cập: “Năng lực đạt được không chỉ thể hiện qua các hoạt động dạy học mà còn qua các hoạt động học tập. Nhìn chung, để đáp ứng được yêu cầu phát triển và phát huy tối đa được tiềm năng và sự sáng tạo của sinh viên trong việc cải cách giáo dục toàn diện, giáo viên phải có khả năng chuyển đổi từ việc lấy giáo viên là trung tâm sang lấy học sinh là trung tâm và tập trung vào các kỹ năng hòa nhập, khả năng giải quyết vấn đề, và tiếp thu kiến thức” và khẳng định: người thầy chỉ có thể giúp đỡ để người học tự khám phá [17, tr. Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng, trong giáo trình “Phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS” đã nêu khái niệm, ý nghĩa của việc sử dụng phương pháp đàm thoại và phương pháp nghiên cứu trong dạy học tác phẩm văn chương ở trường THCS, tác giả cũng nêu ra các biện pháp thực hiện hai phương pháp dạy học này.

Cả hai phương pháp đều nhằm nâng cao cảm thụ của học sinh về tác phẩm từ cảm tính lên lí tính. Kích thích sự tìm tòi của học sinh trong thưởng thức, khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm. Bước đầu giúp học sinh nắm được phương pháp, cách thức để tự tìm tòi, thưởng thức, tiếp nhận giá trị tác phẩm văn chương [15, tr. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân trong nghiên cứu “Đề xuất cấu trúc và chuẩn đánh giá năng lực đọc hiểu trong chương trình giáo dục phổ thông mới” đề cập: Năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh được thể hiện ở khả năng vận dụng các kiến thức tiếng Việt, các kĩ năng, phương pháp đọc, khả năng thu thập thông tin, cảm thụ cái đẹpvà các giá trị của văn bản tác phẩm [25, tr.

Vì vậy, việc xây dựng cấu trúc và chuẩn đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh phổ thông để lập kế hoạch giảng dạy, thiết kế công cụ đo lường đánh giá năng lực học sinh là điều cần thiết. Theo tác giả Hoàng Thị Kim Hoạt, trong đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS Đình Lập thành phố Lạng Sơn”, quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn gồm hệ thống các hoạt động quản lý đối với giáo viên, đối với học sinh và với cơ sở vật chất nhà trường, như: tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống cho đội ngũ giáo viên; quản lý kế hoạch giảng dạy thực hiện chương trình giảng dạy của giáo viên; quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên; quản lý việc cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và đánh giá giờ dạy; đổi mới phương thức hoạt động của tổ chuyên môn; cải tiến công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh; quản lý thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn; tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm; 8 tăng cường giáo dục ý thức, động cơ thái độ học tập môn Ngữ văn học sinh; bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực sáng tạo, phối kết hợp với các lực lượng giáo dục khác… Các biện pháp rất đa dạng và đã bao quát hầu hết các hoạt động giáo dục cơ bản của nhà trường [12, tr. Phan Thị Bích Huệ trong nghiên cứu “Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh” cho rằng, quản lý dạy học môn Ngữ văn tập trung vào các hoạt động sau: tăng cường quản lý việc thực hiện nội dung chương trình đáp ứng mục tiêu môn học và nhiệm vụ từng năm học, thường xuyên chỉ đạo việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học đối với giáo viên và bồi dưỡng phương pháp học tập học sinh, quản lý sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và tăng cường ứng dụng phương tiện dạy học hiện đại vào dạy học Ngữ văn… [13, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ