QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH Y TẾ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO PHƯƠNG THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Quản lý đầu tư xây dựng công trình y tế tại thành phố hà nội, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2024

243
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quản Lý Đầu Tư Xây Dựng Công Trình Y Tế PPP 55

Luận án này tập trung vào quản lý đầu tư xây dựng công trình y tế theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại Hà Nội, một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh nguồn lực nhà nước hạn chế và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng. Việc áp dụng mô hình PPP trong lĩnh vực y tế nhằm mục tiêu huy động nguồn vốn tư nhân, nâng cao chất lượng dịch vụ, và giảm tải cho các bệnh viện công lập. Nghiên cứu này sẽ đi sâu vào phân tích thực trạng, tìm ra những vướng mắc và đề xuất các giải pháp để quản lý hiệu quả dự án PPP y tế tại Hà Nội. Dẫn chứng từ tài liệu gốc cho thấy ngân sách Nhà nước chỉ đáp ứng 64% nhu cầu vốn đầu tư hạ tầng y tế giai đoạn 2010-2019. Do đó, việc thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân thông qua mô hình PPP là vô cùng quan trọng. Luận án này có ý nghĩa thực tiễn cao, góp phần vào việc cải thiện hệ thống y tế công cộng tại thủ đô.

1.1. Tầm quan trọng của đầu tư xây dựng công trình y tế PPP

Thực tế hiện nay các bệnh viện công lập tại Hà Nội thường xuyên đối mặt với tình trạng quá tải, đặc biệt là các bệnh viện tuyến trung ương. Số lượng bệnh nhân vượt quá khả năng đáp ứng của cơ sở vật chất và đội ngũ y bác sĩ. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dịch vụ và trải nghiệm của người bệnh. Đầu tư xây dựng theo hình thức PPP không chỉ giúp tăng cường cơ sở vật chất mà còn mang lại nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ khu vực tư nhân. Việc này giúp nâng cao năng lực khám chữa bệnh, giảm thời gian chờ đợi và cải thiện chất lượng dịch vụ y tế cho người dân.

1.2. Vai trò của luận án trong bối cảnh hiện tại về PPP

Mặc dù có tiềm năng lớn, việc triển khai dự án PPP y tế tại Hà Nội còn gặp nhiều khó khăn. Khung pháp lý chưa hoàn thiện, quy trình phê duyệt phức tạp, và thiếu kinh nghiệm thực tiễn là những rào cản chính. Luận án này nhằm mục đích hoàn thiện cơ sở lý luận về ĐTXDCT y tế theo hình thức PPP, đưa ra các giải pháp quản lý hiệu quả, và góp phần thúc đẩy sự phát triển của mô hình này. Luận án còn đề xuất xây dựng hệ thống chính sách riêng cho từng loại hình dự án PPP, từng ngành, lĩnh vực.

II. Thách Thức Vướng Mắc Quản Lý Dự Án PPP Y Tế 58

Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình y tế PPP đối mặt với nhiều thách thức đặc thù. Từ khâu lập kế hoạch, đấu thầu, triển khai đến vận hành, mỗi giai đoạn đều tiềm ẩn rủi ro và đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan. Vấn đề tài chính, pháp lý, và quản lý chất lượng công trình là những yếu tố then chốt cần được giải quyết. Ngoài ra, việc đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư cũng là một bài toán khó. Một yếu tố nữa là quản lý ĐTXD theo phương thức PPP chỉ có thể thành công nếu được thực hiện hiệu quả và công bằng. Luận án này sẽ đi sâu vào phân tích những thách thức này và đề xuất các biện pháp khắc phục.

2.1. Rủi ro tài chính và cơ chế chia sẻ rủi ro PPP

Tài chính dự án PPP là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của dự án. Việc huy động vốn, quản lý dòng tiền, và đảm bảo khả năng trả nợ là những thách thức lớn. Ngoài ra, cần có cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý giữa nhà nước và nhà đầu tư để đảm bảo tính hấp dẫn của dự án. Các dự án PPP rất phức tạp, sự hỗ trợ của Nhà nước là có hạn, các dự án thường vướng mắc ở chính sách và tài chính. Luận án sẽ phân tích các cơ chế chia sẻ rủi ro PPP hiệu quả và đề xuất các giải pháp tài chính phù hợp.

2.2. Khung pháp lý và hợp đồng PPP cho công trình y tế

Khung pháp lý PPP tại Việt Nam còn nhiều điểm chưa hoàn thiện, đặc biệt là đối với các dự án trong lĩnh vực y tế. Hợp đồng PPP cần được xây dựng một cách chặt chẽ, đảm bảo quyền lợi của cả nhà nước, nhà đầu tư và người dân. Luận án sẽ đánh giá tính đồng bộ của hệ thống pháp luật hiện hành và đề xuất các sửa đổi, bổ sung cần thiết. Hiện nay, một số nhà đầu tư tư nhân đã tham gia vào lĩnh vực y tế theo các hình thức khác nhau tuy nhiên lại chưa có một dự án ĐTXD bệnh viện theo đúng quy định pháp luật về phương thức PPP.

III. Phương Pháp Quản Lý Hiệu Quả Đầu Tư PPP Y Tế 59

Để nâng cao hiệu quả quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình y tế, cần áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến và phù hợp với đặc thù của dự án. Quản lý rủi ro dự án PPP là một trong những yếu tố then chốt. Việc xác định, đánh giá và kiểm soát rủi ro cần được thực hiện một cách hệ thống và liên tục. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến công tác quản lý chất lượng công trình y tế, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn. Việc xây dựng hệ thống chính sách riêng cho từng loại hình dự án PPP, từng ngành, lĩnh vực là hết sức quan trọng. Luận án sẽ đề xuất các phương pháp quản lý hiệu quả để đảm bảo sự thành công của dự án PPP y tế.

3.1. Tối ưu hóa quy trình đấu thầu dự án PPP y tế

Đấu thầu dự án PPP cần được thực hiện một cách minh bạch, công bằng và cạnh tranh. Quy trình đấu thầu cần được đơn giản hóa, giảm thiểu thủ tục hành chính, và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia. Việc lựa chọn nhà đầu tư PPP cần dựa trên các tiêu chí rõ ràng, khách quan, và đảm bảo lợi ích cao nhất cho nhà nước và người dân. Theo báo cáo của nhóm Công tác cơ sở hạ tầng (CSHT) của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam cho thấy trong vòng 20 năm qua cả nước có khoảng 200 3 dự án đã được cấp phép theo phương thức PPP, song “hầu như chưa có dự án nào tuân theo đúng cơ chế PPP được quy định tại Nghị định 15/2015/NĐ-CP và Nghị định 63/2018/NĐ-CP”. Luận án sẽ đề xuất các giải pháp để tối ưu hóa quy trình đấu thầu và lựa chọn nhà đầu tư.

3.2. Áp dụng mô hình BIM Building Information Modeling

Việc áp dụng mô hình BIM trong quản lý dự án đầu tư xây dựng có thể giúp nâng cao hiệu quả thiết kế, thi công và quản lý vận hành công trình. BIM cho phép tạo ra mô hình 3D của công trình, tích hợp thông tin về vật liệu, thiết bị, và quy trình thi công. Điều này giúp giảm thiểu sai sót, tiết kiệm chi phí, và cải thiện chất lượng công trình. BIM nên được triển khai trên diện rộng. Giải pháp ĐTXD các bệnh viện theo phương thức PPP đã góp phần nâng cao khả năng khám chữa bệnh, nâng cao sức khỏe của người dân tại các nước, như là Bệnh viện Southern Derbyshire Acute (Vương Quốc Anh), Bệnh viện St.

IV. Kinh Nghiệm Quốc Tế Ứng Dụng Tại Hà Nội 52

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về PPP y tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của luận án. Các quốc gia như Vương Quốc Anh, Úc, và Ấn Độ đã có nhiều thành công trong việc áp dụng mô hình PPP trong lĩnh vực y tế. Việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước này có thể giúp Hà Nội tránh được những sai lầm và áp dụng các giải pháp hiệu quả. Luận án sẽ phân tích các mô hình PPP trong y tế thành công trên thế giới và đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện của Hà Nội.

4.1. Bài học từ Thổ Nhĩ Kỳ về quản lý đầu tư xây dựng

Thổ Nhĩ Kỳ đã có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý đầu tư xây dựng các bệnh viện theo hình thức PPP. Các dự án PPP y tế tại Thổ Nhĩ Kỳ đã đạt được nhiều thành công, như là rút ngắn thời gian thi công, nâng cao chất lượng dịch vụ, và thu hút nguồn vốn tư nhân. Luận án sẽ phân tích những bài học kinh nghiệm từ Thổ Nhĩ Kỳ và đề xuất các giải pháp áp dụng tại Hà Nội. Do vậy, nhiều nước trên thế giới đã quản lý ĐTXD công trình theo phương thức PPP để có thể huy động nguồn tài chính tư nhân, tăng khả năng tiếp cận và hiệu quả trong việc cung cấp các dịch vụ y tế cho người dân.

4.2. Điều chỉnh chính sách phù hợp với đặc điểm Hà Nội

Việc áp dụng kinh nghiệm quốc tế cần được điều chỉnh phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, và pháp lý của Hà Nội. Luận án sẽ đề xuất các điều chỉnh chính sách cần thiết để đảm bảo sự thành công của dự án PPP y tế tại thủ đô. Hiện nay tại Việt Nam, số lượng và quy mô các bệnh viện công lập chưa đáp ứng tốt được nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân, thường xuyên xảy ra tình trạng quá tải (đặc biệt trầm trọng ở tuyến Trung ương và tuyến cấp tỉnh) tại thủ đô Hà Nội.

V. Giải Pháp Quản Lý Nhà Nước Đầu Tư Xây Dựng Công Trình 57

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng công trình y tế PPP tại Hà Nội, cần có các giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các giải pháp này cần tập trung vào việc hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan nhà nước, và tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư tư nhân. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính của Nhà nước là có hạn vì vậy sự cam kết về vấn đề chính trị, chính sách là hết sức quan trọng. Luận án sẽ đề xuất các giải pháp cụ thể để quản lý đầu tư xây dựng hiệu quả.

5.1. Hoàn thiện khung pháp lý về PPP trong lĩnh vực y tế

Khung pháp lý về PPP cần được hoàn thiện để tạo ra một môi trường đầu tư rõ ràng, minh bạch, và ổn định. Các quy định về thủ tục phê duyệt dự án, cơ chế chia sẻ rủi ro, và giải quyết tranh chấp cần được quy định một cách chi tiết và cụ thể. Luận án “Quản lý đầu tư xây dựng công trình y tế tại thành phố Hà Nội theo phương thức đối tác công tư” sẽ nghiên cứu, hoàn thiện cơ sở lý luận về ĐTXDCT y tế khi thực hiện theo phương thức PPP, giúp công tác quản lý nhà nước theo phương thức này được thuận lợi và có hiệu quả trong ĐTXDCT y tế.

5.2. Nâng cao năng lực quản lý của cơ quan nhà nước

Các cơ quan nhà nước cần được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng về quản lý dự án PPP. Cần có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực của cán bộ, công chức trong lĩnh vực này. Một yếu tố nữa là quản lý ĐTXD theo phương thức PPP chỉ có thể thành công nếu được thực hiện hiệu quả và công bằng. Muốn vậy, phải xây dựng hệ thống chính sách riêng cho từng loại hình dự án PPP, từng ngành, lĩnh vực bởi đường bộ khác đường sắt, khác các nhà máy nước thải…

VI. Đề Xuất Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Quản Lý PPP 54

Luận án này là một đóng góp quan trọng vào lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng công trình y tế PPP tại Hà Nội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án PPP y tế, hoặc nghiên cứu các mô hình PPP mới và sáng tạo. Luận án xin đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này.

6.1. Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của dự án PPP y tế

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phân tích hiệu quả đầu tư PPP y tế về mặt kinh tế - xã hội. Cần có các phương pháp đánh giá hiệu quả toàn diện, không chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài chính mà còn xem xét các tác động đến sức khỏe cộng đồng, chất lượng dịch vụ, và sự phát triển kinh tế địa phương.

6.2. Nghiên cứu các mô hình PPP sáng tạo và phù hợp

Cần có các nghiên cứu về các mô hình PPP mới và sáng tạo, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Các mô hình này có thể kết hợp các yếu tố như công nghệ, dịch vụ, và quản lý để tạo ra các dự án PPP hiệu quả và bền vững.

12/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH Y TẾ THEO PHƯƠNG THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ 1. Giới thiệu chung về quản lý đầu tư xây dựng công trình y tế theo phương thức đối tác công tư 1. Quản lý đầu tư xây dựng công trình y tế Quản lý đầu tư xây dựng (ĐTXD) công trình y tế bao gồm các hoạt động điều tiết mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý (chủ thể) đối với công trình (khách thể) hoặc giữa các chủ thể với nhau liên quan đến khách thể đảm bảo tính hiệu quả khi thực hiện dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực đầu tư. Các mối quan hệ này được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau, như là quy mô, tính chất đầu tư xây dựng công trình (ĐTXDCT) (dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C); nguồn vốn để ĐTXDCT (vốn ngân sách, vốn tín dụng, vốn đầu tư phát triển, hoặc các nguồn vốn khác) hoặc loại hình công trình (dân dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật,.

Chủ thể quản lý ĐTXD (cơ quan, tổ chức): là các đơn vị có đủ thẩm quyền, chức năng quản lý ĐTXD đối với công trình. Tùy theo quy mô, tính chất và đặc điểm của công trình y tế mà chủ thể quản lý được phân cấp theo các đơn vị như sau: + Đơn vị quản lý ĐTXD cấp Bộ chuyên ngành (Bộ Y tế) quyết định đầu tư các dự án công trình y tế nhóm A, B, C. Bộ trưởng Bộ Y tế được uỷ quyền hoặc phân cấp quyết định đầu tư đối với các dự án nhóm B, C cho cơ quan cấp dưới trực tiếp thực hiện (thông thường phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư hoặc cấp của công trình). + Đơn vị quản lý ĐTXD cấp thành phố là cấp quyết định đầu tư các dự án nhóm A, B, C.

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội uỷ quyền hoặc phân cấp quyết định đầu tư đối với các dự án nhóm B, C cho cơ quan cấp dưới trực tiếp thực hiện, như thông qua các Ban QLDA hoặc đơn vị ở cấp địa phương (UBND Quận, Huyện hoặc Sở chuyên ngành) làm chủ đầu tư thực hiện dự án. + Đơn vị quản lý ĐTXD cấp địa phương (UBND Quận, Huyện hoặc Sở chuyên ngành): thực hiện chức năng chủ đầu tư hoặc được ủy quyền chủ đầu tư trong công tác quản lý ĐTXDCT bệnh viện thuộc nguồn vốn của thành phố, Trung ương hoặc 10 nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật. Trong nhiều trường hợp, đơn vị cấp địa phương thành lập các Ban QLDA hoặc thuê tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực để thực hiện công việc quản lý ĐTXDCT. + Nhà đầu tư: thực hiện công tác quản lý ĐTXDCT y tế theo đặc điểm nguồn vốn đầu tư.

Hiện nay, các quy định pháp lý cho phép nhà đầu tư (công ty/doanh nghiệp) thực hiện dự án ĐTXDCT y tế theo hình thức BOT, BTO,. sau đó quản lý, khai thác sử dụng công trình trong suốt thời gian của dự án hoặc quản lý, vận hành các công trình được xây dựng bởi nguồn vốn Nhà nước. Việc quản lý ĐTXDCT được thực hiện trên cơ sở năng lực và các điều khoản thỏa thuận giữa nhà đầu tư và cơ quan QLNN. Khách thể (công trình y tế): Bệnh viện là một trong những công trình y tế quan trọng bởi nó là nền tảng cho các hoạt động khám chữa bệnh cho người dân, đảm bảo yếu tố an sinh xã hội.

Các công trình bệnh viện được ĐTXD các khoa khám, chữa bệnh và thiết bị y tế hiện đại, đồng bộ sẽ đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe của người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Việc phân loại, phân cấp công trình bệnh viện phụ thuộc vào mục tiêu và tính chất quản lý công trình. Trên khía cạnh quản lý hoạt động ĐTXDCT xây dựng, Thông tư số 06/2021/TT-BXD đã quy định công trình y tế bao gồm 2 loại [4]: Bảng 1.1: Phân cấp công trình y tế [4] Tiêu Cấp công trình Công trình y tế chí Đặc biệt I II III IV Bệnh viện đa khoa, bệnh Tổng số viện chuyên khoa từ trung giường ương đến địa phương (Bệnh > 1.000 250÷ < 500 < 250 bệnh viện trung ương không thấp lưu trú hơn cấp I) Trung tâm thí nghiệm an Cấp độ cấp toàn sinh học (Cấp độ an an toàn độ 1 cấp độ 4 cấp độ 3 toàn sinh học xác định theo sinh và cấp quy định của ngành y tế) học độ 2 11 Bệnh viện đóng một vai trò quan trọng trong công tác khám chữa bệnh vì bệnh viện có thầy thuốc giỏi, có trang thiết bị, máy móc hiện đại nên có thể thực hiện được công tác khám, chẩn đoán và điều trị bệnh tốt nhất. Bên cạnh đó, bệnh viện còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu.

Bệnh viện không tách rời, biệt lập và bó hẹp trong công tác chăm sóc sức khỏe nói chung mà còn đảm nhiệm chức năng rộng lớn, gắn bó hài hoà lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và xã hội. Do vậy, việc quản lý ĐTXDCT bệnh viện không chỉ đơn thuần nhìn nhận dưới góc độ xây dựng công trình mà phải xét đến cả yếu tố quản lý, vận hành theo đặc thù của ngành y tế. Phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực y tế Sự hợp tác giữa Nhà nước và Tư nhân trong việc ĐTXDCT để cung cấp các dịch vụ công cho xã hội được xuất hiện từ những năm 63 trước công nguyên, khi Hoàng đế Caesar Augustus thuộc đế chế La Mã đã hợp tác với bộ tộc Salassi trong việc quản lý, vận hành tuyến đường đèo Saint Bernhard [97]. Thời điểm đó, Hoàng đế Caesar Augustus cho phép bộ tộc Salassi được quyền thu phí đi lại của những người qua đèo nhưng phải có trách nhiệm quản lý, duy trì sự thông suốt và hướng dẫn người dân đi qua tuyến đường.

Bên cạnh đó, theo ghi chép của các nhà sử học Hy Lạp, bộ tộc Salassi không phải là ví dụ duy nhất về sự tham gia của tư nhân vào dịch vụ công cộng mà các hoàng đế giai đoạn đó thường cho phép một số bộ tộc được quyền xây dựng các công trình như đền thờ, thư viện, hệ thống thủy nông nhằm đổi lại các đặc quyền kinh tế khác. Thuật ngữ “đối tác công tư” hay thường gọi là hợp tác công tư, được chính thức bắt nguồn tại Mỹ khi khu vực Nhà nước và khu vực Tư nhân cùng hợp tác trong lĩnh vực giáo dục từ những năm 1950 [112]. Sau đó, PPP được áp dụng thêm trong lĩnh vực dịch vụ đô thị và đến thập niên 1960 thì được mở rộng đối với các dự án quy hoạch cải tạo các công trình đô thị. Đến những năm 1980, PPP dần được phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và được hiểu chung là sự hợp tác giữa Nhà nước và Tư nhân để cùng xây dựng CSHT hoặc cung cấp các dịch vụ xã hội.

Hiện nay ở Việt Nam, văn bản pháp luật đã thống nhất cách gọi hình thức này là “phương thức đối tác công tư” [35]. 12 Theo tổng kết của Ngân hàng thế giới - World Bank (2020), phương thức PPP trong lĩnh vực y tế đã được áp dụng phổ biến tại các quốc gia phát triển, cũng như các nước có thu nhập trung bình thấp. Thông thường, PPP trong lĩnh vực y tế sẽ tùy thuộc vào từng giai đoạn hoặc chức năng của dự án như là: thiết kế, xây dựng, tài chính, bảo trì, vận hành, cung cấp dịch vụ y tế. Tùy theo vai trò và trách nhiệm mà khu vực tư nhân đảm nhận, hình thức PPP trong lĩnh vực y tế có thể được phân thành năm loại hình chính [36]: (i) PPP dịch vụ quản lý thiết bị (ii) PPP dịch vụ quản lý và vận hành (O&M) (iii) PPP dịch vụ chuyên khoa (vi) PPP cơ sở vật chất và (v) PPP tích hợp.1: Phương thức PPP phổ biến trong lĩnh vực y tế [36] Trong lĩnh vực y tế có nhiều loại hình PPP khác nhau, mỗi loại có ưu điểm và nhược điểm nhất định và được áp dụng tùy thuộc vào đặc điểm của dự án.

Kết quả nghiên cứu của WB cho thấy ngay cả ở các nước phát triển, việc quản lý ĐTXD theo phương thức PPP trong lĩnh vực y tế vẫn là một nhiệm vụ thách thức, khó khăn [36]. Tại Việt Nam, phương thức PPP dịch vụ quản lý thiết bị được áp dụng khá phổ biến, dễ dàng nhận biết so với các phương thức khác, tuy nhiên không được chính thức được thừa nhận tại các VBPL trong thực tế do đây là hình thức phát triển tự phát, dựa trên sự thiếu thốn cơ sở vật chất, thiết bị y tế tại các cơ sở công lập. PPP dịch vụ quản lý thiết bị Trong mô hình dịch vụ quản lý thiết bị, các nhà đầu tư tư nhân sẽ cung cấp và 13 quản lý thiết bị y tế cần thiết cho hoạt động của cơ sở y tế công lập. Quy trình bao gồm mua sắm, giao nhận, lắp đặt, vận hành thử, đào tạo người dùng, quản lý tài sản, xử lý sự cố, bảo trì, giám sát hiệu suất, thay thế và thanh lý.

PPP quản lý thiết bị đảm bảo các bệnh viện công có khả năng tiếp cận với các thiết bị y tế hiện đại trong khoảng thời gian đã thỏa thuận, song song với việc Chính phủ thực hiện các khoản thanh toán thường xuyên, định kỳ dựa trên các thông số hiệu suất đã thỏa thuận. Hợp đồng quản lý thiết bị cho phép khu vực công chuyển các rủi ro về công nghệ, vận hành và tài chính sang khu vực tư nhân. Ngoài ra, cơ chế này cũng tăng cường độ tin cậy và tính bền vững của thiết bị. Tuy nhiên, hợp đồng PPP quản lý thiết bị có một số hạn chế nhất định.

Đối tác tư nhân chỉ chịu trách nhiệm đảm bảo rằng thiết bị hoạt động. Không có gì đảm bảo rằng thiết bị sẽ được khai thác hiệu quả nếu như khu vực công (bệnh viện) không tiến hành phân tích khảo sát về nhu cầu khám chữa bệnh, cơ sở hạ tầng cần thiết, sự có mặt của các chuyên gia y tế và cơ chế chuyển tuyến bệnh nhân. Do đó, cần phải có hệ thống thông tin bệnh viện để theo dõi hiệu quả sử dụng trang thiết bị. PPP quản lý thiết bị được áp dụng khá phổ biến ở Anh, các nước châu Âu, ở các nước đang phát triển và đã mang lại một số kết quả tích cực ban đầu.

PPP dịch vụ quản lý và vận hành Trong mô hình PPP dịch vụ quản lý và vận hành (O&M), đối tác tư nhân được ký hợp đồng vận hành và quản lý bệnh viện, cơ sở y tế hoặc mạng lưới y tế và được chi trả phí quản lý cho dịch vụ này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ