Chương 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM, PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ LĨNH VỰC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Quản lý đầu tư nước ngoài và vai trò của pháp luật trong quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1. Khái niệm quản lý đầu tư nước ngoài và giải quyết tranh chấp đầu tư nước ngoài Trước khi tìm hiểu thế nào là “quản lý đầu tư nước ngoài” chúng ta cần phải làm rõ khái niệm “đầu tư”, “đầu tư nước ngoài”.
Theo cách hiểu thông thường trong ngôn ngữ Việt Nam thì đầu tư là việc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc nào đó, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội”[1]. Dưới góc nhìn kinh tế học, đầu tư được hiểu như là một hoạt động đưa vào sử dụng những nguồn lực đã có để nhằm đạt được những kết quả lớn hơn cái đã có. Những kết quả lớn hơn này được gọi là các lợi ích thu được từ đầu tư bao gồm sự lớn mạnh, tăng thêm về tài sản vật chất, trí tuệ hay nguồn nhân lực cho xã hội. Dưới góc nhìn pháp lý, đầu tư được hiểu là việc nhà đầu tư sử dụng vốn dưới hình thức được pháp luật cho phép để tiến hành sản xuất, kinh doanh, trao đổi….
nhằm mục đích sinh lợi nhuận hoặc đạt được các lợi ích kinh tế xã hội khác. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về đầu tư tại Việt Nam (từ Luật khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi ngày 20/5/1998 đến Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996, 2000) đều chưa đưa ra khái niệm về đầu tư mà mới chỉ đề cập đến khái niệm “đầu tư nước ngoài” và “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Bất cứ một quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế nào muốn tiến hành được đều phải có vốn đầu tư. Nó được hiểu là tài sản xã hội được bỏ vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai.
Vốn đầu tư là yếu tố quyết định để kết hợp các yếu tố khác trong sản xuất kinh doanh và là yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với các dự án đầu tư. Chính vì vậy, làm sao có thể giải quyết được nguồn vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 cho phát triển kinh tế là vấn đề cấp bách của mỗi quốc gia. Lịch sử đã chỉ ra chỉ có hai con đường để giải quyết vấn đề trên, đó là: - Huy động nguồn vốn trong nước - Huy động nguồn vốn nước ngoài Tùy hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia mà lựa chọn nguồn vốn trong nước hay ngoài nước cho thích hợp. Có thể lấy ví dụ về chính sách huy động vốn ở các nước trên thế giới để minh họa cho điều này: Các nước Anh và Pháp tích lũy nguyên thủy tư bản thông qua bóc lột thuộc địa, nước Nga tạo nguồn vốn đầu tư bằng biện pháp đánh thuế cao, Nhật Bản có mức tiết kiệm cao trong một thời gian dài do duy trì mức lương thấp trong khi năng suất lao động tăng nhanh, cho phí cho quân sự thấp, hạn chế gắt gao chế độ phúc lợi xã hội và tinh giảm tối đa bộ máy nhà nước, trong khi đó, các nước châu Á khác đều chú trọng đến chiến lược tạo vốn hướng ngoại.
Tuy chính sách tạo vốn hướng ngoại ở mỗi quốc gia châu Á cũng có khác nhau song các nước ASEAN đều tập trung vào thu hút vốn FDI. Huy động vốn đầu tư nước ngoài có thể được thực hiện dưới các hình thức: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp (FDI) là loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Đầu tư gián tiếp là lại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu góp vốn nhưng không tham gia trực tiếp điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.
Trong hình thức đầu tư gián tiếp, ngoài đầu tư chứng khoán còn có tín dụng quốc tế.Tín dụng quốc tế là hình thức đầu tư quốc tế dưới dạng cho vay vốn và kiếm lời thông qua lãi suất tiền vay. So với đầu tư gián tiếp, trong hình thức FDI, nước chủ nhà có nhiều cơ hội tiếp thu nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước chủ đầu tư nước ngoài. Mặt khác, các chủ đầu tư nước ngoài (ở một mức độ nhất định) có thể TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 tham gia điều hành quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho vốn đầu tư mà họ bỏ ra.Ngoài ra, một số nước muốn huy động vốn thông qua đầu tư trực tiếp (mà cụ thể là thông qua hình thức tín dụng quốc tế) sẽ dễ bị trục lợi về chính trị, dễ bị trói buộc vào vòng ảnh hưởng của các nước cho vay hơn so với việc huy động vốn thông qua hình thức đầu tư trực tiếp. Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp cũng sẽ không mang lại hiệu quả cao nếu nước chủ nhà không có một quy hoạch đầu tư cụ thể mà để đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị bóc lột và phải gánh chịu những công nghệ độc hại, lạc hậu do những nước xuất khẩu vốn chuyển sang.
Chính vì những điều lợi hại đã phân tích ở trên mà đa số các nước đang phát triển đều coi đầu tư trực tiếp là chìa khóa đề mở cánh cửa cho phát triển kinh tế. Đặc biệt, đối với giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường chứng khoán – công cụ thu hút vốn đầu tư gián tiếp chưa hoàn thiện thì đầu tư trực tiếp càng chiếm một vị trị quan trọng. Luật Đầu tư năm 2005 ra đời điều chỉnh chung hoạt động đầu tư đã đưa ra một định nghĩa về đầu tư: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”[2], tuy nhiên định nghĩa này chưa thực sự rõ ràng và phù hợp với thực tế. Luật đầu tư 2014 (khoản 3 điều 3) lại đưa ra cách hiểu khác hơn về đầu tư thông qua định nghĩa về “đầu tư kinh doanh”.
Theo đó, đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng[4, 5, 6, 7] hoặc thực hiện dự án đầu tư [8]. Định nghĩa này có xu hướng giống với cách định nghĩa trong các hiệp định đầu tư quốc tế, cụ thể tại điều 1 chương 4 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, đầu tư được hiểu là mọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một bên nước này do các công dân hoặc công ty của nước bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp, bao gồm các hình thức như một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 công ty hoặc một doanh nghiệp, cổ phần, cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác, trái phiếu, giấy ghi nợ và các quyền lợi đối với các khoản nợ dưới các hình thức khác trong công ty; các quyền trong hợp đồng1[9]. Nhìn chung lại, có thể khái quát rằng đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ các nguồn lực như vốn, tài sản, trí tuệ … theo các hình thức khác nhau phù hợp với các quy định pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập các tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn mua cổ phần, phần vốn góp của các tổ chức kinh tế; hoặc tiến hành đầu tư theo các hình thức hợp đồng hoặc thực hiện các dự án đầu tư nhằm mục đích sinh lời. Đầu tư có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên từng tiêu chí2[10]: Đầu tư vào khu vực tư nhân và đầu tư vào khu vực nhà nước (căn cứ theo khu vực kinh tế tiếp nhận vốn đầu tư); đầu tư phi lợi nhuận và đầu tư có lợi nhuận (căn cứ theo mục đích đầu tư); đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp (căn cứ theo tính chất quản lý hoặc quyền kiểm soát hoạt động đầu tư); đầu tư vào sản xuất, thương mại hoặc dịch vụ (căn cứ vào lĩnh vực đầu tư).
Bên cạnh đó, nếu căn cứ vào nguồn gốc vốn đầu tư thì đầu tư có thể được chia thành đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Như vậy, đầu tư nước ngoài là một hình thức của hoạt động đầu tư. Khoản 3 điều 12 Luật Đầu tư năm 2005 đã đưa ra định nghĩa về đầu tư nước ngoài khá chi tiết, theo đó đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư, trong đó khái niệmnhà đầu tư nước ngoài được giải thích tại khoản 4 điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 là những cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Như vậy,đầu tư nước ngoài có thể hiểu một cách khái quát nhất là sự di chuyển vốn, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào khác từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để tiến hành hoạt động đầu tư (như đã nêu trên) nhằm mục đích thu được lợi nhuận.
1 Điều 1, Chương 4 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ. 2 Chương XVIII - Luật Kinh tế quốc tế, Giáo trình Công pháp quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013 tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Quản lý đầu tư nước ngoài trong phạm vi một quốc gia có thể hiểu là công tác quản lý của nhà nước, chính quyền sở tại đối với hoạt động đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ quốc gia tiếp nhận đầu tư. Để tìm hiểu khái niệm quản lý đầu tư nước ngoài trước hết ta cần phân tích khái niệm về quản lý đầu tư.
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.