CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO HỆ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Biện pháp quản lý 1. Quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất của con người.
Hoạt động quản lý tác động tới tất cả các lĩnh vực đời sống. Nó phản ánh sự nhận thức của con người đối với tự nhiên, môi trường và xã hội xung quanh. Quản lý đúng có nghĩa là con người đã có những nhận thức đúng, đã nắm được quy luật và vận động theo quy luật của tự nhiên, của môi trường. Nhờ có hoạt động quản lý đúng đắn con người đã có thể vượt lên trên mọi khó khăn của hoàn cảnh và tạo ra nhiều thành tựu giải phóng cho mình, cho cả nhân loại.
Về điều này C. Mác đã từng viết: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng".12] Thuật ngữ quản lý đã trở nên rất phổ biến, tuy nhiên để nêu lên thành định nghĩa thì cho tới nay vẫn chưa có được sự thống nhất.Taylor: "Quản lý là biết chính xác điều người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất".Koontz: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức)". 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo PGS.
Đặng Quốc Bảo: ""Quản" là giữ gìn, "lý" là chỉnh sửa. "Quản lý" là quá trình chủ thể tác động vào khách thể nhằm giữ cho hệ không bị lạc hậu (trì trệ) và rối ren (phát triển không bền vững)".1] Quản lý với tư cách là một hành động thì có thể định nghĩa như sau: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý (người quản lý) để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của khách thể quản lý (người bị quản lý) theo đúng ý chí của nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan và nhằm đạt tới mục đích chung của tổ chức”. Trong định nghĩa này cần lưu ý một số đặc điểm cơ bản sau: - Quản lý bao giờ cũng là một tác động mang tính hướng đích, có mục tiêu xác định. - Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Mối quan hệ này là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc. - Quản lý là hoạt động của con người. - Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan. - Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại.
Ngày nay cùng với sự tiến bộ trong nhận thức của con người, tầm quan trọng của quản lý đã được nâng lên thành một nghệ thuật (nghệ thuật quản lý), thành một nghề (nghề quản lý). Trong quản lý vừa có tính tất yếu khách quan, vừa có tính chủ quan; vừa có tính giai cấp, vừa có tính kỹ thuật; vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật; vừa có tính pháp luật, vừa có tính xã hội rộng rãi; v. Chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất. Đồng thời đó cũng là những yêu cầu đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục phải nắm bắt và điểu khiển để duy trì hoạt động của tổ chức một cách có hiệu quả nhằm góp phần làm tăng tiến trình phát triển xã hội.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Biện pháp Trong các từ điển ở nước ta khái niệm biện pháp được định nghĩa tương đối giống nhau: - Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của nhà xuất bản Giáo dục năm 1996: “biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành”. - Theo từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 2005: “biện pháp là cách làm, cách hành động, cách đối phó để đi đến một mục đích nhất định”. - Theo từ điển Tiếng Việt năm 2008 của Trung tâm Từ điển học: “biện pháp là cách thức xử lý công việc hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể”.
Tóm lại, biện pháp là cách giải quyết một vấn đề cụ thể bằng những hành động đúng đắn để đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra. Biện pháp quản lý Từ những phát biểu và phân tích về khái niệm “quản lý”, khái niệm “biện pháp” có thể đưa ra định nghĩa về khái niệm “biện pháp quản lý” như sau: Biện pháp quản lý là cách giải quyết những công việc cụ thể của công tác quản lý nhằm giúp chủ thể quản lý thực hiện có kết quả các mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra. Đối tượng chủ yếu của quản lý là con người mà mỗi con người thường chịu tác động của nhiều yếu tố như: môi trường, xã hội, các mối quan hệ phong phú và phức tạp, v. Bởi vậy, biện pháp quản lý cũng rất đa dạng.
Nghiên cứu về khoa học quản lý, tác giả Trần Quốc Thành đã nêu ra 4 loại biện pháp quản lý [31, tr 6-8], đó là: - Biện pháp thuyết phục: Là cách tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với các yêu cầu này. Đây là biện pháp cơ bản để giáo dục con người. Biện pháp thuyết phục gắn với tất cả các biện pháp quản lý khác và phải được người quản lý sử dụng trước tiên. Vì nhận thức là bước đầu tiên trong hoạt động của con người.
- Biện pháp hành chính – tổ chức: Là cách tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ quyền lực tổ chức, quyền lực hành chính. Cơ sở của biện pháp quản lý này là dựa vào quy luật tổ chức, bởi vì bất cứ một hệ thống nào cũng có quan hệ tổ chức. Trong đó, người ta sử dụng quyền uy và sự phục tùng trong bộ máy này. Khi sử dụng biện pháp hành chính – tổ chức chủ thể quản lý phải nắm chắc các văn bản pháp lý, biết rõ giới hạn, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi thành viên trong tổ chức.
Các quyết định phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn đồng thời chủ thể quản lý phải luôn tiến hành công tác kiểm tra và nắm bắt được những thông tin phản hồi. - Biện pháp kinh tế: Là cách tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế. Cơ sở của biện pháp này là dựa vào qui luật kinh tế, thông qua qui luật này để tác động tới tâm lý của đối tượng. Nội dung của biện pháp này là nhà quản lý đưa ra các nhiệm vụ, kế hoạch tương ứng với các mức lợi kinh tế.
Đối tượng quản lý có thể lựa chọn phương án thích hợp để vừa đạt được mục tiêu của tập thể, vừa đạt được lợi ích kinh tế của cá nhân. - Biện pháp tâm lý – giáo dục: Là cách tác động vào đối tượng quản lý thông qua tâm tư, tình cảm, tư tưởng của con người. Cơ sở của biện pháp này là dựa vào qui luật tâm lý của con người và chức năng tâm lý của con người. Nội dung của biện pháp này là kích thích tinh thần tự giác, sự say mê của con người.
Muốn quản lý thành công, người quản lý cần hiểu rõ tâm lý của bản thân mình và của đối tượng quản lý. Mỗi biện pháp quản lý có sự tác động riêng tới từng khía cạnh của đối tượng quản lý. Vì vậy, nhà quản lý cần lưu ý mỗi biện pháp quản lý đều 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không phải là cách thức duy nhất cũng như không phải mang tính bất biến, vĩnh cửu. Muốn quản lý hiệu quả, nhà quản lý phải biết cải tiến và sử dụng linh hoạt các biện pháp quản lý.
Quá trình đào tạo 1. Đào tạo Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì: Từ "đào" có nghĩa là sự giáo hóa, tôi luyện. Từ "tạo" có nghĩa là làm nên, tạo nên. Và từ "đào tạo" có nghĩa là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường trong đề tài KX07-14 có nêu: "Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hình thành và hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả".11] Theo tác giả Mạc Văn Trang thì: "Đào tạo là hình thành kiến thức, thái độ, kỹ năng nghề nghiệp bằng một quá trình giảng dạy, huấn luyện có hệ thống theo chương trình quy định với những chuẩn mực nhất định (chuẩn quốc gia hay quốc tế)". [32] Như vậy có thể hiểu đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước. Với các cách hiểu như vậy thì đào tạo chính là một phạm trù của giáo dục để chỉ riêng lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, với một trình độ nghề nghiệp nhất định. Thời gian đào tạo tùy vào mức độ đạt được của kỹ năng nghề nghiệp đề ra.
Trình độ đào tạo nghề ở nước ta được phân cấp thành các bậc như: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng. Qúa trình 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm quá trình được định nghĩa trong các từ điển ở nước ta như sau: - Theo từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Văn hoá thông tin năm 2001: “quá trình là các việc cần trải qua”. - Theo từ điển Tiếng Việt năm 2008 của Trung tâm Từ điển học: “quá trình là trình tự phát triển, diễn biến của một sự việc, hiện tượng nào đó”.