Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ ĐÀO TẠO Ở ĐẠI HỌC NHẰM ĐÁP ỨNG CHUẨN QUỐC TẾ QS STARS 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về quản lí đào tạo ở đại học Những nghiên cứu về QLĐT tuy rất nhiều nhưng phần lớn tập trung vào trường nghề, trung cấp kĩ thuật, cao đẳng và cao đẳng nghề cũng như các doanh nghiệp lớn. QLĐT ở đại học chưa được nghiên cứu nhiều song cũng có một số công trình.
Tuy không trực tiếp xem xét vấn đề QLĐT nhưng nhiều công trình liên quan đã đề cập những vấn đề gần gũi và gắn liền như đảm bảo chất lượng, kiểm định chất lượng, quản lí dựa vào chuẩn, chuẩn hóa và QLCL nói chung hoặc xem xét từng mảng bộ phận của của QLĐT như nhân sự (GV, CBQL), chương trình, dạy học, chuyên ngành v. Lê Công Dự (2013)[28] đã đề xuất ba giải pháp nâng cao năng lực thực hành cho học viên sư phạm: 1/ Bồi dưỡng toàn diện các kĩ năng sư phạm cho học viên; 2/ Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hành cho học viên sư phạm một cách thường xuyên, liên tục,với nhiều hình thức phong phú; 3/ Tạo điều kiện về cơ sở vật chất và môi trường sư phạm cho học viên rèn luyện nâng cao năng lực thực hành. Đặng Thành Hưng (2013)[54] giải thích rằng xét từ góc độ chức năng thì ĐBCL là một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống quản lí CLGD. ĐBCL (Quality Assurance) là tiếp cận cụ thể của QLCL dựa vào qui trình áp dụng các lí thuyết, quan điểm, chính sách, mục tiêu, các nguồn lực, biện pháp, thủ tục và công cụ thích hợp để bảo đảm thực hiện được các chuẩn hay các cấp chất lượng đã đề ra trong toàn bộ hoạt động từ khi khởi xướng đến khi kết thúc và thu được sản phẩm.
Đó là một trong những khâu cơ bản của QLCL. ĐBCL giáo dục cũng tuân theo qui trình như vậy và là một bộ phận của quản lí CLGD. 7 Do có nhiều cách hiểu CLGD khác nhau về phạm vi, cấp độ và qui mô nên cũng cần hiểu khái niệm ĐBCLGD theo những phạm vi, cấp độ và qui mô khác nhau (tr. Đặng Thành Hưng (2007)[50] cũng phân tích vai trò, chức năng của chuẩn trong QLCLGD, nhấn mạnh rằng quản lí dựa vào chuẩn chính là quản lí tập trung vào chất lượng.
Khi nghiên cứu đề tài cấp Bộ Các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục khu vực nông thôn trong thời kì chuyển đổi cơ cấu kinh tế, (2011)[55] ông cũng xác định khung chất lượng giáo dục theo mô hình CIPO - Contex (Bối cảnh) – Input (Đầu vào) - Process (Quá trình) – Output (Đầu ra) bao gồm các tiêu chí và chỉ số chất lượng và khuyến cáo rằng CIPO cũng có thể áp dụng được trong ĐBCL giáo dục. ĐBCL giáo dục theo 4 khâu này đồng thời cũng chính là một trong những mô hình quản lí hệ thống. Vũ Ngọc Hải, Trần Khánh Đức (2003)[37] cho rằng: trong giáo dục, đảm bảo chất lượng có thể được coi như là hệ thống các biện pháp, các hoạt động có kế hoạch được tiến hành trong và ngoài nhà trường và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo ra sự tin tưởng thỏa đáng rằng các hoạt động và sản phẩm đào tạo (HS, SV tốt nghiệp) sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu về CLGD dục theo mục tiêu đào tạo dự kiến. Nguyễn Đức Chính, Lê Đức Ngọc, Nguyễn Phương Nga (2000)[23] và Nguyễn Đức Chính (2002)[22] đã xem xét những vấn đề cơ bản của kiểm định và đánh giá CLGD.
Họ cho rằng các cơ sở đào tạo cần có các điều kiện ĐBCL đầu vào, quá trình đào tạo và đầu ra. Đồng thời, giới thiệu bộ tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện ĐBCL dùng cho các trường đại học. Bên cạnh các công trình khoa học nghiên cứu về mặt lí luận, nhiều công trình nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn đã được thực hiện và công bố. đã đề cập chủ yếu đến kiểm định, đánh giá CLGD, phát triển CTGD đại học trong QLGD và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao CLGD đại học qua các mô hình QLCL.
Phạm 8 Thành Nghị (1998)[66] đã nêu quá trình tiến hóa của quản lí nói chung đi từ mô hình quản lí truyền thống (hành chính tập trung - mọi chuyện được kiểm tra, kiểm soát) đến hình thức hiện đại (phi tập trung hơn - thông qua các qui trình, cơ chế chịu trách nhiệm). QLCL cũng tiến hóa từ kiểm soát chất lượng sang ĐBCL và QLCL tổng thể. Đó cũng chính là 3 cấp độ khác nhau của QLCL giáo dục. Một số nghiên cứu về những vấn đề cụ thể của QLCLĐT tại cấp trường theo các loại hình đào tạo hoặc loại hình trường ĐH như của Vũ Xuân Hồng (2010)[45], Nguyễn Văn Ly (2010)[62], Nguyễn Đức Chính (2002)[22], Bùi Thị Minh Lý (2016)[63]… Các công trình này đã bàn đến những vấn đề lí luận và thực tiễn QLCLĐT ở các loại hình đại học riêng biệt, trong đó có vấn đề ĐBCL, đề xuất các giải pháp thực hiện QLCLĐT ở các cơ sở đào tạo đại học.
Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005)[61] cho rằng quản lí CLĐT phải được thực hiện ở mọi khâu, mọi nơi, mọi lúc, từ đầu vào, quá trình dạy học và đầu ra cho tới nơi làm việc của học viên sau tốt nghiệp. ĐBCLĐT là một cấp độ của QLCL, vì vậy, trong đào tạo tại các khoa sư phạm thì ĐBCL cũng phải được thực hiện ở mọi khâu, mọi nơi, mọi lúc từ đầu vào, quá trình và đầu ra. Trần Xuân Bách (2010)[4] nhận định rằng nếu tiêu chí và qui trình đánh giá GV đại học được định hướng bằng khung chuẩn nghề nghiệp và phương pháp, kĩ thuật đánh giá đa dạng thì việc đánh giá GV sẽ mang tính chuẩn hóa và cho hiệu quả cao hơn. Nguyễn Đức Ca (2011)[14] bàn về QLCLĐT theo ISO 9001:2000 trong trường Đại học Hàng Hải Việt Nam.
Những nghiên cứu cụ thể hơn và trực tiếp về QLĐT ở đại học còn tương đối ít. Hồ Cảnh Hạnh (2013)[41] nghiên cứu về QLĐT GVTHCS vùng Đông Nam Bộ cho rằng QLĐT thực chất là thông qua các chức năng quản lí để tác động vào các thành tố của QTĐT nhằm đạt mục tiêu, đem lại hiệu quả và CLĐT. Có nghĩa là đồng nhất nội dung với chức năng quản lí. Nguyễn Thị Thu Thủy (2012)[84] nghiên cứu QLĐT giảng viên lí luận 9 chính trị đáp ứng yêu cầu thời kì đổi mới hiện nay đã phân tích thực tiễn QLĐT GV lí luận chính trị ở Việt Nam đã xác định mô hình cấu trúc năng lực, phẩm chất đặc thù của GV lí luận chính trị, đề xuất 8 giải pháp QLĐT như: Xác định chuẩn đầu vào, chuẩn đầu ra hệ đào tạo GV lí luận chính trị; đảm bảo tính khoa học, hiện đại, hệ thống của nội dung đào tạo; ban hành và hoàn thiện các bộ qui chế, qui định về chế độ công tác của GV; đa dạng hóa các hình thức thi, kiểm tra trong QTĐT.
Sái Công Hồng (2014)[44] đã đề xuất các nguyên tắc và 6 giải pháp quản lí CTĐT đại học ngành Quản trị kinh doanh ở Đại học quốc gia Hà Nội theo tiếp cận ĐBCL dựa vào chuẩn của AUN. Ngoài ra tác giả cũng giới thiệu các hoạt động ĐBCL đào tạo ở Đại học quốc gia Hà Nội theo chuẩn AUN. Hội đồng Quản trị AUN đã phát hành tài liệu “Hướng dẫn AUN_QA”, Hướng dẫn thực hiện đảm bảo chất lượng của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á được xem là cẩm nang và tài liệu tham chiếu cho phong trào ĐBCLGD đại học trong ASEAN. Tài liệu này đã đề cập đến thủ tục, tiêu chí ĐBCL; tự đánh giá của hệ thống IQA (ĐBCL bên trong) trường đại học; tự đánh giá ở cấp độ chương trình và cấp độ nhà trường, các tiêu chí chất lượng.
Tuy nhiên từ 2016 Đại học quốc gia đã bắt đầu quan tâm và xúc tiến chuẩn hóa đào tạo song song theo cả hai hướng: AUN và QS Stars. Vũ Vũ (2016)[91] nghiên cứu QLĐT ở Đại học sư phạm nghệ thuật, chủ yếu quan tâm đến những đặc điểm của khối đại học nghệ thuật và đào tạo GV nghệ thuật. Phạm Văn Bường (1999)[13] đề xuất các biện pháp QLĐT ở Học viện hậu cần. Nguyễn Thanh Cảnh (2015)[16] nghiên cứu vấn đề QLĐT tại Đại học Nội vụ theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội.
Trần Văn Cát (2016) [17] đề cập các vấn đề QLĐT ở Học viện Phật giáo Việt Nam theo tiếp cận ĐBCL. Phạm Hữu Mỹ Dục (2012)[26] xem xét việc QLĐT theo nhu cầu xã hội của Trường Đại học Kinh tế - Kĩ thuật Công nghiệp, Đại học Thái Nguyên. Nguyễn Tiến Dũng (2011)[27] đề xuất những biện pháp QLĐT của 10 Học viện Cảnh sát Nhân dân đáp ứng chuẩn đầu ra. Phạm Hương Giang (2011) bàn về QLĐT đại học hệ vừa làm vừa học của trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
Trình Thanh Hà (2011) xem xét các biện pháp ĐBCL đào tạo đại học từ xa ở Việt Nam. Nguyễn Quang Giao (2011) mô tả hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ. Ngô Thị Hạnh (2012) xem xét QLĐT trong hệ đào tạo đại học từ xa. Nguyễn Thị Hà (2015) đề xuẩ các biện pháp QLĐT của Trường Đại học Kinh tế - Kĩ thuật Công nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực vùng Đồng bằng sông Hồng.
Nguyễn Mai Hương (2011) xem xét QLĐT ở phạm vi dạy học theo học chế tín chỉ trong các trường đại học. Nguyễn Việt Hùng (2010) đặt ra và giải quyết vấn đề QLĐT hệ bằng kép tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Lê Thị Tâm (2010) đề xuất biện pháp QLĐT theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Điện lực. Trịnh Ngọc Thạnh (2008) đề xuất mô hình QLĐT nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học.
Nguyễn Thị Hồng Vân (2011) bàn về QLĐT ở Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Trần Thị Vân (2010) giải quyết vấn đề QLĐT theo tín chỉ tại trường Đại học dân lập Đông Đô. Cấn Thị Thanh Hương (2011) nghiên cứu vấn đề quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học v.v… Những nghiên cứu trên tuy phát hiện nhiều sự kiện quí giá trong thực tiễn QLĐT, song về lí luận căn bản không có ý tưởng mới mẻ. Cái mới thường là địa bàn, ngành nghề hay qui mô nghiên cứu.
Ngoài ra có những nghiên cứu tổng quan về QLĐT, ĐBCL và KĐCL GDĐH trên thế giới của Vũ Thị Phương Anh (2008), Briller V., Phạm Thị Ly, Vũ Thị Phương Anh, Bùi Mạnh Nhi (2007), Đại học Quốc gia Hà Nội (2001) v.