Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần kết quả nghiên cứu của luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo ngoại ngữ tại trung tâm ngoại ngữ tƣ thục. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo ngoại ngữ tại các trung tâm ngoại ngữ tƣ thục trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo ngoại ngữ tại các trung tâm ngoại ngữ tƣ thục trên địa tỉnh Ninh Bình. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGOẠI NGỮ TẠI CÁC TRUNG TÂM NGOẠI NGỮ TƢ THỤC 1.
Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngày nay đƣợc sự quan tâm đầu tƣ nghiên cứu về vấn đề quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng mà đặc biệt là quản lý giáo dục Việt Nam đã đạt đƣợc những thành công bƣớc đầu đáng tự hào. Tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục và phát triển lý luận quản lý là hai phạm trù luôn gắn bó bổ sung cho nhau. Nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý của các nhà nghiên cứu đã đƣợc xuất bản dƣới dạng giáo trình, sách tham khảo. Trong đó phải kể đến các tác giả nổi tiếng nhƣ: Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Bùi Minh Hiền, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thị Mỹ Lộc,… Trong các công trình nghiên cứu của mình các tác giả đã tổng hòa đƣợc các tri thức về giáo dục học, tâm lý học, xã hội học thông qua các khái niệm quản lý, các chức năng quản lý, các nguyên tắc, phƣơng pháp quản lý, các nghệ thuật quản lý,… nói chung và quản lý giáo dục, quản lý hoạt động học,… nói riêng.
Việt Nam bên cạnh những tiến bộ mà giáo dục đã đạt đƣợc, giáo dục nƣớc ta vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập mà đáng quan tâm nhất là chất lƣợng và hiệu quả giáo dục còn thấp, đặc biệt ở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã xác định phƣơng hƣớng, nhiệm vụ chủ yếu nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ. Trong đó văn kiện cũng đề ra nhiệm vụ sắp tới cho ngành giáo dục đó là: “Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, đảm bảo dân chủ, thống nhất, chất lƣợng, tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đào tạo. Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực đầu tƣ để phát triển giáo dục đào tạo.
Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [11, 27]. 7 Một trong những nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp nhằm phát triển giáo dục vững chắc và mạnh mẽ hơn trong thời gian tới đó là đổi mới việc quản lý tổ chức dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân để nâng cao chất lƣợng dạy học trong các trung tâm, cung cấp cho thế hệ trẻ một phƣơng tiện giao tiếp, học tập và làm việc hữu hiệu trong môi trƣờng đa ngôn ngữ theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Vấn đề kinh nghiệm quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ ở một số nƣớc trên thế giới và trong khu vực đã đƣợc đề cập đến trong “Teaching English”, Cambridge University Press, 1995 của Adrian Doff; công tác quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ cũng đƣợc đề cập khá chi tiết trong “Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020”. Hà Nội, 2008; “Những vấn đề cơ bản về dạy học ngoại ngữ”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2005.
Đã có rất nhiều luận văn thạc sỹ QLGD nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ trong nhà trƣờng. Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, tác giả đã thấy có một số đề tài đã đƣợc nghiên cứu tại khoa Quản lý giáo dục - Trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội nhƣ: Đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo ngoại ngữ ở các trường THPT huyện Tiên Lãng - Hải Phòng” của Trần Văn Nhƣờng, 2008. Đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ theo chương trình mới của Hiệu trưởng các trường THPT Huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc” của Bùi Văn Tuân, 2009. Đề tài “Biện pháp QLHĐĐT tiếng Anh của HT các trường tiểu học ngoài công lập -Tp Hà Nội” của Nguyễn Thị Hƣơng, 2010.
Đề tài “BPQLHĐ DH ngoại ngữ của giám đốc TT ngoại ngữ trên địa bàn Sơn La” của Trần Thị Hà, 2010 Đề tài “Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ tại trường THPT Thủy Sơn, thành phố Hải Phòng” của Phạm Hồng Mai, 2011. Các công trình nghiên cứu trên đây đều đã đạt đƣợc những thành tựu nhất định về lý luận cũng nhƣ thực tiễn về vấn đề quản lý hoạt động dạy học ngoại 8 ngữ - cụ thể là tiếng Anh trong nhà trƣờng. Tuy nhiên vẫn còn rất ít các đề tài nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động đào tạo ngoại ngữ tại các trung tâm ngoại ngữ tƣ thục, đặc biệt là những nơi có đội ngũ giáo viên nƣớc ngoài tham gia giảng dạy. Cho đến nay chƣa có đề tài nào nghiên cứu quản lý hoạt động đào tạo ngoại ngữ tại các trung tâm ngoại ngữ tƣ thục trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Vì vậy, học viên tiến hành nghiên cứu đề tài này, hy vọng sẽ kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu đã đề cập, từ đó đề xuất những biện pháp khả thi mới để áp dụng vào thực tiễn. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Khái niệm “quản lý” đã đƣợc các nhà khoa học nhận định đa dạng nhƣ sau: Theo tác giả F. Taylor thì “Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất” [14, tr.
Theo tác giả Henry Fayol thì “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [14, tr. Theo tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”[16]. Theo tác giả Nguyễn Văn Lê thì “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học, là nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con ngƣời nhằm đạt hiểu quả tối ƣu theo mục tiêu đã đề ra” [26]. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động.
Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả nhiều hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý. Nhƣ vậy có thể xem quản lý là cách thức tổ chức để đạt mục đích quản lý bằng chi phí thấp nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất. Đặc điểm cơ bản của quản lý: - Quản lý là hoạt động có mục đích, đƣợc xác định cấu trúc của tổ chức để điều chỉnh các mối quan hệ. 9 - Quản lý có những mối quan hệ của sự lựa chọn thành phần cụ thể tạo nên quá trình điều khiển nhƣ một tổng thể.
Nó có những quy định về mối liên hệ trên, dƣới, ngang, dọc, trong, ngoài. - Trong quá trình quản lý việc đƣa ra quyết định và thực hiện quyết định đƣợc tiến hành tuần tự theo các bƣớc nhất định [26]. Có bốn chức năng cơ bản của quản lý: - Lập kế hoạch là việc đƣa ra quyết định, lựa chọn lựa phƣơng hƣớng, đƣờng lối, hành động mà tổ chức nào đó và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Lập kế hoạch là công việc liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của tổ chức, là nền tảng của quản lý.
- Tổ chức: Là việc xây dựng và duy trì cơ cấu nhất định về vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác trong tổ chức. Tổ chức bao gồm việc xác định một cơ cấu định trƣớc. Tổ chức là hoạt động cần thiết để đạt đƣợc mục tiêu, là công cụ của quản lý. - Lãnh đạo, chỉ đạo: Là quá trình tác động đến con ngƣời, điều khiển họ, làm cho họ tự giác nỗ lực phấn đấu đạt đƣợc mục tiêu đề ra của tổ chức.
- Kiểm tra: là việc đánh giá kết quả, là đo lƣờng và điều chỉnh các họat động của việc thực hiện các mục tiêu nhằm tìm ra những ƣu, nhƣợc điểm để phát huy hoặc điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo. Trong các chức năng thì chức năng tổ chức là quan trọng nhất * Mục tiêu của quản lý giáo dục: Mục tiêu là yếu tố cơ bản của hệ thống quản lý. Có nhiều loại mục tiêu quản lý: - Mục tiêu lâu dài, mục tiêu trƣớc mắt. - Mục tiêu chung, mục tiêu bộ phận.
- Mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể. * Các nguyên tắc của quản lý giáo dục: - Tính khoa học, thực tiễn: Trong quản lý ngƣời quản lý phải nắm đƣợc cơ sở khoa học. Khoa học và quản lý giáo dục phải dựa vào thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, kinh tế học, tâm lý học, luật học … 10 - Tính tập trung dân chủ: Thực hiện nguyên tắc này là đảm bảo sự thống nhất tổ chức và trình độ cao của hệ thống đồng thời đảm bảo phát huy cao độ các khả năng tiềm tàng, trí tuệ tập thể. Nó thể hiện ở sự kết hợp chế độ thủ trƣởng với chế độ dân chủ, tập thể trong quản lý.
Thực chất nguyên tắc rộng rãi này đảm bảo cho kỷ luật chặt chẽ. - Tính pháp chế: Đây là nguyên tắc cần thiết vì nó giúp điều hành và quản lý bằng pháp luật cả về mặt tổ chức và hoạt động. Quản lý nhà nƣớc về giáo dục đòi hỏi không những việc thực hiện nghiêm luật pháp của nhà nƣớc mà còn vận dụng kết hợp những quy phạm pháp quy với những yếu tố đặc thù của ngành giáo dục để xây dựng và thực hiện một hệ thống quy phạm, quy chế giáo dục. - Tính hiệu quả: Chất lƣợng và hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào hiệu quả tổ chức và quản lý.