CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG THEO TIẾP CẬN NHU CẦU LAO ĐỘNG 1. Khái niệm đào tạo, đào tạo nghề song hành, quản lý hoạt động đào tạo, nhu cầu lao động 1. Đào tạo, đào tạo nghề song hành và các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo 1. Khái niệm về đào tạo Từ điển Giáo dục học định nghĩa đào tạo là quá trình truyền đạt có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức, chuẩn bị người học hội nhập đời sống tự lập, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ quốc gia.
Quá trình này, về bản chất, là tác động sư phạm nhằm trang bị tri thức, kỹ năng, và phẩm chất cần thiết để cá nhân thích ứng với xã hội và công việc. Tác phẩm "Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới" của Nguyễn Minh Đường khẳng định: Đào tạo là hoạt động có mục tiêu, cấu trúc bài bản, nhằm phát triển toàn diện kiến thức, kỹ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, giúp cá nhân hiệu quả trong công việc và cuộc sống. Đào tạo hướng tới sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân, đảm bảo năng suất lao động cao. Như vậy, có thể nói cách khác là: Thuật ngữ đào tạo được dùng để chỉ quá trình chuẩn bị về kiến thức, kỹ năng và những phẩm chất nhân cách cần thiết để cho con người tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp theo sự phân công lao động xã hội.
Ở Việt Nam, theo Luật Giáo dục 43/2019/QH14, các trường CĐ là những cơ sở giáo dục có mục tiêu đào tạo NL chất lượng cao trong các ngành, nghề, các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để đạt được điều đó, nhiệm vụ trọng tâm của trường CĐ là triển khai đào tạo theo đúng mục tiêu, chương trình đã xác định, bảo đảm CLĐT đáp ứng đòi hỏi của xã hội [55]. Từ những phân tích ở trên có thể khái quát rằng: Đào tạo là quá trình chuẩn bị có mục đích, có tổ chức cho con người về kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp và phẩm chất nhân cách theo từng ngành, nghề nhất định để họ có thể tham gia 14 hoạt động và thích ứng với sự phân công lao động xã hội. Như vậy, đào tạo thực chất là tiến hành các tác động sư phạm có tổ chức, có mục đích để hình thành, phát triển kiến thức, kỹ năng lao động, phẩm chất nghề nghiệp theo từng lĩnh vực ngành nghề nhất định.
Mục đích chủ yếu của đào tạo là chuẩn bị cho con người khả năng tiếp nhận sự phân công lao động xã hội bằng cách hình thành, phát triển ở họ các kiến thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất nhân cách cần thiết đối với đời sống xã hội và hoạt động nghề nghiệp. Quá trình giáo dục trang bị cho cá nhân kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực tiễn, năng lực nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến. Hơn nữa, người học được rèn luyện sức khỏe, khả năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, phẩm chất đạo đức và sự thích ứng hoàn hảo với môi trường nghề nghiệp. Điểm khác biệt giữa đào tạo (đào tạo đại học, cao đẳng, đào tạo nghề) với truyền nghề đơn thuần là ở chỗ, việc chuẩn bị học vấn và nghề nghiệp cho con người được thực hiện một cách có tổ chức trong một thiết chế đào tạo cụ thể - đó là nhà trường.
Trong từng nhà trường, chủ thể đào tạo là những tổ chức và cá nhân, trước hết là những nhà giáo thực hiện những tác động sư phạm để hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực ở đối tượng đào tạo. Đối tượng đào tạo là những người có nhu cầu, đủ điều kiện, được cơ sở đào tạo tiếp nhận và tổ chức học tập, rèn luyện theo mục tiêu, chương trình đào tạo từng ngành, nghề nhất định. Khái niệm về đào tạo nghề song hành Đào tạo nghề song hành là chương trình kết hợp giữa lý thuyết được giảng dạy tại các cơ sở đào tạo nghề và thực hành tại các doanh nghiệp chuyên ngành. Trong đó phần lý thuyết được giảng dạy tại các cơ sở đào tạo nghề, trường đại học/cao đẳng và các doanh nghiệp sẽ đảm nhận hướng dẫn, đào tạo học viên phần thực hành.
Nội dung của phần lý thuyết và thực hành phối hợp và bổ sung cho nhau [76]. Các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo ở các trường cao đẳng [43] * Mục tiêu đào tạo * Nội dung đào tạo 15 * Phương pháp đào tạo * Hình thức tổ chức đào tạo * Hoạt động dạy * Hoạt động học * Cơ sở vật chất - kỹ thuật dạy học * Kết quả đào tạo 1. Quản lý hoạt động đào tạo 1. Quản lý Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã trình bày khái niệm quản lý đa chiều, phản ánh sự phong phú và đa dạng trong tiếp cận vấn đề.
Cụ thể, tác giả Đỗ Hoàng Toàn định nghĩa quản lý như một quá trình tác động có hệ thống, định hướng mục tiêu của chủ thể lên đối tượng, nhằm khai thác tối ưu tiềm năng, cơ hội hệ thống để đạt hiệu quả mục tiêu đề ra trong điều kiện môi trường năng động [59]. Bùi Minh Hiền, Đặng Quốc Bảo và Vũ Ngọc Hải (2010) trong "Quản lý giáo dục" (NXB Đại học Sư phạm) nhấn mạnh quản lý là sự tác động có tổ chức, định hướng mục tiêu từ chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm hiện thực hóa mục tiêu [26]. Hồ Văn Vĩnh (2003) trong "Một số vấn đề về tư tưởng quản lý" (NXB Chính trị quốc gia) trích dẫn quan điểm của F. Taylor: quản lý là việc xác định chính xác yêu cầu công việc và đảm bảo hoàn thành hiệu quả, tiết kiệm nhất [71].
Cuối cùng, Harold Koontz, Cyril O'Donnell và Heinz Weihrich (1994) trong "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" (NXB Khoa học và kỹ thuật) miêu tả quản lý là thiết kế môi trường làm việc nhóm hiệu quả, hướng đến thành tựu mục tiêu chung. Quá trình quản lý đào tạo thể hiện sự tác động có hệ thống, bài bản của nhà quản lý. Mục tiêu hướng tới là huy động, điều phối tối ưu nguồn lực, đạt hiệu quả cao trong môi trường năng động. Khách thể và đối tượng quản lý được tác động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Nhân lực Khái niệm nhân lực, xét về góc độ lao động sản xuất, chính là tổng hòa sức người [51]. Song, để hiểu thấu đáo hơn, cần nhận diện nhân lực như nguồn lực tiềm tàng nơi mỗi cá nhân, bao hàm cả trí lực và thể lực. Trí lực, biểu hiện qua khả năng tư duy, kiến 16 thức, năng khiếu, tài năng, quan điểm sống, niềm tin và nhân cách. Thể lực, phản ánh sức khỏe thể chất, chịu tác động bởi yếu tố hình thể, tình trạng sức khỏe, điều kiện sống, thu nhập, chế độ dinh dưỡng, làm việc, nghỉ ngơi, chăm sóc y tế, tuổi tác, thời gian làm việc và giới tính [24].
Tóm lại, nhân lực là nguồn lực cá nhân, hội tụ trí tuệ và thể chất. Khái niệm nguồn lực con người, theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, được định nghĩa đa chiều. Một số học giả khẳng định nguồn lực con người chính là tổng thể các thành viên cấu thành nên mọi tổ chức [14]. Quan điểm khác bổ sung, nguồn lực con người bao hàm cả số lượng và chất lượng cá nhân, xét trên cả phương diện thể chất và tinh thần, bao gồm sức khỏe, trí tuệ, năng lực, phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc [15].
Chất lượng nguồn lực con người là sự tổng hòa các yếu tố đảm bảo về số lượng, tính đồng bộ về cơ cấu và sự đạt chuẩn về phẩm chất, năng lực, bao gồm tri thức, khả năng tiếp thu kiến thức, năng động xã hội, sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hóa. Trên phạm vi quốc gia hoặc địa phương, nguồn lực con người được định nghĩa là tổng thể tiềm năng lao động, được chuẩn bị ở các mức độ khác nhau, sẵn sàng tham gia hoạt động lao động, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ cấu lao động và kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [18]. Như vậy, nguồn lực con người là sự tổng hợp năng lực thể chất và trí tuệ của một nhóm người, một tổ chức, địa phương hay quốc gia. Sự khác biệt giữa nguồn lực con người (Human Resource) và nhân lực (Manpower) nằm ở chỗ nguồn lực con người là sự tích hợp năng lực trí tuệ và thể chất của tất cả thành viên trong tổ chức, xét cả số lượng và chất lượng, thể hiện tiềm năng lao động của tổ chức.
Ngược lại, nhân lực chỉ đề cập đến năng lực của một cá nhân cụ thể khi tham gia lao động. Tóm lại, nguồn lực con người của một tổ chức hay hệ thống bao hàm toàn bộ nhân lực, tức là toàn bộ nguồn lực con người làm việc trong tổ chức đó. Thị trường lao động Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa thị trường lao động là không gian kinh tế nơi dịch vụ lao động được giao dịch, xác định mức độ việc làm và tiền lương [80]. Khái niệm này tập trung vào dịch vụ lao động được đền đáp bằng tiền công hoặc hàng hóa có giá trị tương đương.
17 Trong công trình "Thị trường lao động: Cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam" (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội, 2005), tác giả Phạm Đức Chính dẫn chứng quan điểm của các học giả Hoa Kỳ: thị trường lao động là cơ chế điều tiết mối quan hệ giữa người lao động và việc làm [10]. Cơ chế này đảm bảo việc làm và giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động. Theo Nguyễn Tiệp trong "Giáo trình Thị trường lao động" (Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2007), nhà kinh tế học Liên bang Nga Kostin Leonit Alecxeevich định nghĩa thị trường lao động là hệ thống quan hệ giữa người sử dụng lao động (sở hữu tư liệu sản xuất) và người lao động (sở hữu sức lao động) [58]. Hệ thống này ưu tiên đáp ứng nhu cầu lao động, với việc làm là phương tiện sinh tồn.
Tóm lại, thị trường lao động cấu thành từ sự tương tác giữa người sử dụng lao động và người lao động trong một môi trường kinh tế cụ thể, phản ánh các mối quan hệ kinh tế - pháp lý giữa hai bên. Theo một số chuyên gia kinh tế Việt Nam, thị trường lao động (TTLĐ) bao hàm toàn bộ quan hệ lao động trong khuôn khổ hợp đồng thuê mướn.