Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ngoài nước Vấn đề dạy nghề và quản lý ĐTN đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới. Ở các nước tư bản châu Âu, nhiều tác giả nghiên cứu để đưa ra những cơ sở sư phạm đối với việc tổ chức quản lý hoạt động dạy học nghề nghiệp.
Họ rất quan tâm tới sự phối hợp chặt chẽ giữa dạy lý luận và luyện tập kỹ năng, kỹ thuật trong thực tiễn sản xuất. Các hệ thống dạy nghề và nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp xuất hiện ở nhiều quốc gia như Đức, Pháp, Mỹ, Thụy Điển, Phần Lan,… đều đề cập tới quản lý đối với các thành phần cơ bản tạo nên quá trình ĐTN ở các cơ sở giáo dục. Trong cuốn Giáo dục kỹ thuật và đào tạo thế kỷ XXI, các khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế và tổ chức giáo dục, Khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc, các tác giả đề cập tới mối quan hệ gắn bó giữa mục tiêu phát triển ĐTN với mục tiêu phát triển KT-XH; giữa đào tạo với sự biến động của thị trường lao động; sự cần thiết phải thiết lập một cơ cấu giáo dục mở và linh hoạt. Họ khẳng định rằng, trong nền kinh tế thị trường, hoạt động quản lý liên quan tới thiết kế chính sách về ĐTN cần lưu tâm tới mối quan hệ hợp tác giữa nhà nước, người sử dụng lao động và nhà sản xuất [Dẫn theo 25].
Các công trình: “Managing Training Stragies for Developing Countries” (1987), “Managing TVET to Meet Labour Market Demand” (1998), “Managing 7 vocational training systems” (2000) [Dẫn theo 25] đều đề cập đến quản lý đào tạo trong cơ chế thị trường và quản lý đào tạo theo phương pháp tiếp cận hiện đại gắn nhà trường với doanh nghiệp; đưa ra một hệ thống khoa học và nghệ thuật về quản lý và tổ chức ở những cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, đồng thời đưa ra biện pháp phát triển năng lực quản lý, quản trị viên cao cấp tiến tới mức độ chuyên nghiệp cao. Hầu hết các các công trình nêu trên đã đề xuất được những lý thuyết cơ bản đến ĐTN và quản lý ĐTN trong cơ chế thị trường và nhu cầu việc làm trong cộng đồng. Trong khi đó, nhiều quốc gia châu Á đã triển khai nghiên cứu và thực hiện các mô hình ĐTN cho lao động với những hình thức khác nhau. Điển hình như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Indonesia… Ở Nhật Bản, đối với phát triển kinh tế các vùng nông thôn, Chính phủ Nhật Bản cũng rất thành công khi triển khai mô hình: “Mỗi làng một sản phẩm”.
Phong trào “mỗi làng một sản phẩm”ở tỉnh Oita của Nhật Bản đã thực sự thu hút được sự quan tâm và học hỏi ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia, Indonesia. Mỗi địa phương tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển. Có thể là sản phẩm như Nấm Shitake; Sản phẩm từ sữa bò, hàng gỗ mỹ nghệ ở thị trấn YuJuincam; Cá khô làng Yonouzu; Chè, măng tươi ở làng Natkatsu. Trong 20 năm kể từ năm 1979 - 1999, phong trào mỗi làng một sản phẩm đã tạo ra được 329 sản phẩm với tổng doanh thu là 141 tỷ yên [Dẫn theo 23].
Ở Hàn Quốc, từ giữa thập niên 60 của thế kỉ XX, Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra kế hoạch đào tạo trên cơ sở kế hoạch nhân lực, nhờ vậy đầu tư sức người và của cải tập trung để hướng học sinh trung học theo nhánh ĐTN và công nhân kỹ thuật. Một số môn học nghề được đưa vào học trong chương trình trung học cơ sở, tuy nhiên chuyên môn hóa theo ngành đào tạo chỉ được 8 thực hiện ở cấp trung học bậc trên. Khoảng một phần ba số học sinh theo học trung học bậc cao lựa chọn trung học nghề còn hai phần ba theo chương trình trung học phổ thông. Các chuyên ngành được lựa chọn nhiều nhất trong trung học nghề là kỹ thuật và thương mại.
Bên cạnh các trường nghề trung học dành cho ĐTN ban đầu ở Hàn Quốc còn phát triển mạnh mẽ các trung tâm dạy nghề và đào tạo lại. Cả nước có khoảng 90 trung tâm như vậy và ĐTN ở đây chủ yếu giới hạn ở các khóa ngắn hạn đào tạo các kỹ năng hành nghề trực tiếp. Phần lớn chi phí cho các trung tâm này được nhà nước hỗ trợ, nhưng các học viên vẫn phải đóng học phí cho các khóa học này. Đồng thời chính phủ Hàn Quốc còn khuyến khích mạnh mẽ các công ty thực hiện đào tạo tại cơ sở sản xuất nhằm giảm chi phí [Dẫn theo 23].
Ở Đài Loan, hệ thống giáo dục được phân thành 2 luồng rất rõ rệt, sau trung học cơ sở thì chỉ khoảng 20% vào học hệ thống giáo dục phổ thông còn lại 80% sẽ vào hệ thống giáo dục nghề nghiệp; ở Indonesia, những năm gần đây, Chính phủ nước này đã quyết định giảm dần tỉ lệ học sinh sau trung học cơ sở vào trung học phổ thông và tăng dần tỉ lệ học sinh sau trung học vào học nghề. Năm 2007 tỉ lệ học sinh sau trung học phổ thông chỉ còn 57% và 43% tham gia vào học nghề [Dẫn theo 23]. Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, ĐTN nói chung và quản lý HĐĐTN nói riêng là vấn đề được Chính phủ đặc biệt quan tâm và triển khai trên thực tế. Do đó, HĐĐTN, quản lý ĐTN ở Việt Nam được hình thành từ những năm 50 của thế kỷ XX.
Tuy nhiên, phải đến Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII thì vấn đề ĐTN mới thực sự được quan tâm trở lại [1]. Tiếp đến, vấn đề ĐTN cho LĐNT được Chính phủ quan tâm và thể hiện rõ hơn trong nghị quyết Trung ương 7, khóa X: “Tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm, nâng cao 9 thu nhập của dân cư nông thôn tăng trên 2,5 lần so với hiện nay” [2]. Để thực hiện được chủ trương, Chính phủ đã cụ thể hóa bằng quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng phê duyệt đề án “ĐTN cho LĐNT đến năm 2020” [32]. Từ khi đề án có hiệu lực, được triển khai trên phạm vi cả nước, HĐĐTN cho LĐNT có những bước chuyển biến mạnh mẽ và đạt được những kết quả nhất định.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc, việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động có sự dịch chuyển, làm nảy sinh của người lao động. Thực trạng về lao động, việc làm, chất lượng nguồn nhân lực đã thực sự đặt ra những yêu cầu cấp bách về việc ĐTN. Vì vậy, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, tạp chí đề cập về vấn đề ĐTN nói chung và ĐTN cho LĐNT nói riêng. Sách: Mô hình ĐTN cho LĐNT [39] của Tổng cục dạy nghề đã khái quát 4 mô hình về ĐTN cho LĐNT.
Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ đề cập chuyên sâu về vấn đề ĐTN và ĐTN cho LĐNT. Luận án: ĐTN cho LĐNT vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ CNH, HĐH [18] của Nguyễn Văn Đại đã hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về ĐTN cho LĐNT theo yêu cầu chuyển đổi kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường; đánh giá thực trạng ĐTN cho LĐNT; tìm ra những hạn chế và đề xuất những quan điểm, phương hướng, giải pháp đẩy mạnh ĐTN cho LĐNT vùng Đồng bằng sông Hồng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thời kỳ CNH, HĐH đến năm 2020. Luận văn: Quản lý ĐTN cho LĐNT tại Trung tâm dạy nghề huyện Yên Phong - Bắc Ninh [29] của Phạm Thị Nga tập trung nghiên cứu một số vấn đề lí luận về quản lý ĐTN cho LĐNT, tìm hiểu về thực trạng công tác quản lý ĐTN cho LĐNT và đề xuất biện pháp quản lý ĐTN cho LĐNT tại Trung tâm dạy nghề huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy nghề cho LĐNT tại Trung tâm GDNN - GDTX huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ [31] của Nguyễn Đức Thu tập trung 10 nghiên cứu hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về quản lý hoạt động dạy nghề tại Trung tâm GDNN - GDTX cấp huyện, tìm hiểu thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề cho LĐNT tại Trung tâm GDNN - GDTX huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu cho thấy, ở Việt Nam, công tác ĐTN cho người lao động có nhiều bước phát triển, các ngành nghề đào tạo được đa dạng hóa. Hệ thống các trường dạy nghề phát triển không ngừng, CSVC phục vụ cho quá trình đào tạo được đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Tuy nhiên, số lượng nhân lực qua đào tạo còn thấp, chất lượng không cao. Cơ cấu nguồn nhân lực qua đào tạo trong các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực nông nghiệp, phi nông nghiệp còn mất cân đối.
Các ngành, nghề lao động chân tay cho người LĐNT ít được quan tâm. Do đó, những vấn đề về quản lý HĐĐTN, trong đó có quản lý HĐĐTN cho LĐNT cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu. Các khái niệm chính của đề tài 1. Khái niệm đào tạo nghề Hiện nay, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm ĐTN (dạy nghề).
Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “ĐTN nhằm cung cấp cho người học những kĩ năng cần thiết để thực hiện tất cả nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp được giao” [Dẫn theo 29]. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 27/11/2014 tại kỳ họp thứ 8: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [28]. Từ định nghĩa trên cho thấy: ĐTN bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, không tách rời nhau, vì vậy trong nhiều trường hợp dạy nghề và ĐTN được đồng nhất với nhau trong các diễn đạt văn bản.