CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO KIỂM ĐỊNH VIÊN CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ THEO QUAN ĐIỂM CHUẨN HÓA 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý đào tạo kiểm định viên chất lượng dạy nghề theo quan điểm chuẩn hóa Quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên hiện nay là một trong những yếu tố góp phấn đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhiều nước trên thế giới đang có những chính sách quản lý đội ngũ giáo viên. Hoa kỳ là nước chú trọng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cải cách “mục tiêu 2000” về căn bản là cải cách về chuẩn.
Phần Lan với chính sách đào tạo tất cả giáo viên trong hệ thống giáo dục toàn diện tối thiểu phải tốt nghiệp từ thạc sỹ trở lên. Từ các nước trên thế giới, nhìn lại ở Việt Nam đã có công trình khoa học nào nghiên cứu về quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên theo hướng chuẩn hóa. Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục Việt Nam đã quan tâm đến vấn đề này. Các tác giả Bùi Minh Hiền – Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo cho rằng để xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên trong một nhà trường phải chú ý đến các yêu cầu: đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu.
Nhóm tác giả đã phân tích các chức năng quản lý trong phát triển đội ngũ giáo viên từ việc lập kế hoạch – tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra phải đảm bảo các vấn đề về số lượng, chất lượng và cơ cấu, trong đó tác giả phân tích sâu nội dung về chất lượng và chất lượng giáo dục. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu trong thực tiễn quản lý đội ngũ giáo viên trung học phổ thông hiện nay [7]. Trong những năm gần đây, nhiều tác giả cũng chọn vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên theo hướng chuẩn hóa để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình. Lê Khánh Tuấn trong “Các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã xác định giáo viên là yếu tố cơ bản, là “tế bào” của đội ngũ.
Tác giả đặt ra yêu cầu đối với người giáo viên là phải được chuẩn hóa, hiện đại hóa để đạt các tiêu chuẩn về cá nhân. Trong phát triển đội ngũ phải đảm bảo tính xã hội hóa là cần có sự 6 tham gia của các lực lượng xã hội vào công tác bồi dưỡng, đào tạo giáo viên; đồng thời phải đảm bảo tính dân chủ hóa để phát huy trí tuệ của mỗi cá nhân trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự tu dưỡng để phát triển cá nhân [20, tr. Với đề tài “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định theo quan điểm chuẩn hóa”, tác giả Vũ Thế Hưng cho rằng “nhất thiết phải xây dựng đội ngũ giáo viên trung học phổ thông đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hoá về trình độ” [9, tr. Đồng quan điểm với tác giả Vũ Thế Hưng, tác giả Nguyễn Thị Thủy cũng đặt sự quan tâm vào vấn đề “Quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông Trần Nhân Tông – Hà Nội theo hướng chuẩn hóa”.
Theo tác giả Nguyễn Thị Thủy, việc “vận dụng chuẩn nghề nghiệp trong quản lý đội ngũ giáo viên vừa là yêu cầu, vừa là biện pháp quan trọng trong việc chuẩn hóa, nâng cao năng lực đội ngũ của nhà trường” [16, tr. Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác về vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên theo bậc học, ngành học và vùng miền khác nhau. Các công trình nghiên cứu này góp phần không nhỏ trong việc nâng cao tính khoa học, hiệu quả của công tác quản lý theo hướng chuẩn hóa, từ đó phát huy năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý của nhà trường. Xét dưới góc độ dạy nghề, cũng đã có một số công trình nghiên cứu được công bố như: Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực của tác giả Trần Khánh Đức (Nxb Giáo dục, Hà Nội – 2002) tập hợp các bài báo khoa học của tác giả về cơ sở lý luận và phương pháp luận phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực; hoặc sách chuyên khảo về “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO&TQM” (2004) của cùng tác giả có đi sâu về kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp.
Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Luận án Tiến sĩ của tác giả Phan Chính Thức (Đại học Sư phạm Hà Nội – 2003) đi sâu nghiên cứu, đề xuất những khái niệm, cơ sở lý luận mới về đào tạo nghề, về lịch sử đào tạo nghề và giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự 7 nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong lĩnh vực KĐCL cũng có không ít nghiên cứu, tiêu biểu như Nguyễn Đức Chính (Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học - 2002), Trần Khánh Đức, Ngô Doãn Đãi, Phạm Xuân Thanh, Lê Vinh Danh, Nguyễn Hữu Châu… nhưng chủ yếu là nghiên cứu tổng quan về lĩnh vực KĐCL trong giáo dục đại học, hoặc những nghiên cứu chỉ mới đi vào phân tích các tiêu chí, tiêu chuẩn KĐCL; đánh giá công tác tự kiểm định của một cơ sở đào tạo cụ thể. Công tác đào tạo đội ngũ KĐV chất lượng dạy nghề mới được triển khai trong vài năm gần đây cho nên vấn đề nghiên cứu quản lý đào tạo đội ngũ KĐV chất lượng dạy nghề theo quan điểm chuẩn hóa là vấn đề mới và chưa có các nghiên cứu chuyên sâu. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý và các chức năng cơ bản của quản lý 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm, tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người cho tới ngày nay. Các nhà lý luận quản lý quốc tế có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý. Với Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915) - cha đẻ của thuyết quản lý khoa học, người đã rất thành công trong quản lý sản xuất thì “quản lý là khoa học đồng thời là một nghệ thuật thúc đẩy xã hội phát triển”.
Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng học đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [3, tr.Follet (1868-1933) cho rằng “quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”. Theo bà trong công việc quản lý cần chú trọng tiếp xúc trực tiếp với người lao động với toàn bộ đời sống tâm lý và xã hội của họ [3, tr. Henry Fayol (1841 - 1925) là người đầu tiên phân biệt hoạt động quản lý thành 05 chức năng cơ bản: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và 8 kiểm tra”. Ông còn khẳng định khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt mục tiêu của tổ chức [3, tr.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ quản lý. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [19, tr. Theo nhóm tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là “quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo), và kiểm tra” [3, tr.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, thuật ngữ “quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, gắn kết với nhau. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”. Quản lý là ổn định và phát triển hệ thống. Người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho trạng thái của hệ thống quản lý luôn được ở trạng thái “cân bằng động” [16, tr.
Trần Khánh Đức, người đã có nhiều năm nghiên cứu về giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng cho rằng: “Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lí nhằm tác động lên khách thể quản lí để thực hiện những mục tiêu xác định của công tác quản lý” [5, tr. Tuy mỗi quan niệm trên nhấn mạnh mặt này hay mặt khác của quản lý nhưng đều có chung điểm thống nhất: xác định quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Trong đó, chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức. Khách thể quản lý là những 9 con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau; là các nhiệm vụ cần giải quyết để tổ chức thực hiện sứ mạng của mình.
Các chức năng cơ bản quản lý Theo quan điểm quản lý hiện đại có bốn chức năng cơ bản đó là: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo – lãnh đạo, kiểm tra. Chức năng kế hoạch hóa Kế hoạch hóa là một chức năng cơ bản của quản lý. Công tác kế hoạch phải luôn đi trước một bước so với quá trình tổ chức và thực hiện nhiệm vụ. Kế hoạch càng chặt chẽ, khoa học và sát với tình hình thực tiễn thì quá trình tổ chức thực hiện càng thuận lợi và hiệu quả bấy nhiêu.
Kế hoạch phải xác định được các vấn đề như nhận dạng và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách thức, biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích của cả quá trình. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa, đó là: - Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức.