lời mở đầu và kết luận, luận án đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Luận cứ khoa học về quản lý danh mục cho vay tại các Ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý danh mục cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam - Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quản lý danh mục cho vay Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam. 14 CHƢƠNG 1 LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ DANH MỤC CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát danh mục cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1.
Hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại Hoạt động cho vay là một trong những nghiệp vụ truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng. Căn cứ theo điều 04 của Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì ―Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi‖ [24]. Theo quy chế cho vay ban hành tại Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN: "Cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng thƣơng mại giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi" Nhƣ vậy, cho vay ngân hàng có thể đƣợc hiểu là một giao dịch về tiền giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay là khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp hoặc các chủ thể khác), trong đó ngân hàng chuyển giao tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận. Đổi lại, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn thanh toán [21].
Số tiền thu hồi về phải lớn hơn số tiền ban đầu. Phần lớn hơn đƣợc gọi là lợi tức cho vay mà ngƣời ta vẫn gọi là tiền lãi. Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngƣời cho vay là ngân hàng khi chuyển giao tiền cho khách hàng vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng ngƣời đi vay sẽ hoàn trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản lý tín dụng.
Danh mục cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm danh mục cho vay ― Danh mục cho vay (Loan Portfolio) là sự kết hợp nắm giữ các khoản cho vay đối với các đối tƣợng khách hàng khác nhau thuộc các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, thuộc khu vực địa lý khác nhau. Mục đích của sự kết hợp trong danh mục cho vay là làm giảm rủi ro bằng cách đa dạng hoá danh mục cho vay‖ [54]. 15 Nhƣ vậy một danh mục cho vay đơn giản là tập hợp một hoặc nhiều loại khoản cho vay khác nhau.
Các khoản cho vay là tài sản mà ngân hàng nắm giữ với mục tiêu sinh lời, và đối tƣợng khách hàng rất đa dạng từ chủ thể là cá nhân đến các tổ chức, thuộc nhiều lĩnh vực kinh doanh, thuộc nhiều ngành nghề kinh tế, thuộc nhiều khu vực địa lý đa dạng khác nhau trong nền kinh tế. Sự phát triển của thị trƣờng tài chính đã tạo ra nhiều loại sản phẩm cho vay phong phú đa dạng. Đồng thời, các lý thuyết đầu tƣ hiện đại và nhiều bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy hiệu ứng rõ ràng của việc giảm thiểu rủi ro thông qua quá trình đa dạng hoá danh mục cho vay. Do vậy, các ngân hàng thƣờng không chỉ cho vay vào một vài khách hàng đơn lẻ mà kết hợp nhiều khách hàng khác thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, thuộc nhiều đối tƣợng khách hàng khác nhau trong một danh mục.
Vì vậy danh mục cho vay của ngân hàng luôn chứa đựng các khoản cho vay đa dạng khác nhau với thời hạn khác nhau, đối tƣợng khách hàng khác nhau, lĩnh vực ngành nghề khác nhau, khu vực địa lý khác nhau. Tùy thuộc vào đối tƣợng ngân hàng, mục tiêu và chính sách tín dụng khác nhau của các ngân hàng mà mức độ đa dạng của danh mục cho vay của ngân hàng sẽ khác nhau. Đặc điểm danh mục cho vay Danh mục cho vay là một danh mục tài sản truyền thống, rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thƣơng mại và chứa đựng nhiều đặc thù khác biệt với các danh mục tài sản khác. Thứ nhất, danh mục cho vay đƣợc hình thành từ các khoản cho vay riêng lẻ rất đa dạng khác nhau.
Sự đa dạng đƣợc thể hiện các khoản cho vay ngân hàng thực hiện đối với các đối tƣợng khách hàng, lĩnh vực ngành nghề cho vay, về thời hạn cho vay, và khu vực địa lý rất phong phú. Tùy thuộc vào lợi thế cạnh tranh, vào mục tiêu hoạt động và khẩu vị rủi ro mà từng ngân hàng sẽ có sự đa dạng về danh mục cho vay sẽ khác nhau. Thứ hai, danh mục cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản và là một danh mục mạng lại thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng thƣơng mại. Điều này xuất phát từ chính đặc trƣng hoạt động của ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức mà hoạt động thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và kinh doanh tiền gửi trong đó 16 hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của kinh doanh tiền gửi [21].
Vì lý do trên, danh mục cho vay luôn đƣợc các nhà quản lý chú trọng quan tâm nhằm điều chỉnh hƣớng tới mục tiêu ngày càng gia tăng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thứ ba, danh mục cho vay là một danh mục tiềm ẩn rủi ro cao và kết cấu danh mục cho vay không ổn định. Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên của ngân hàng, các khoản mục cho vay trong danh mục thƣờng xuyên có sự di chuyển thay đổi do các khoản cho vay mới hàng ngày sẽ đƣợc gia tăng và những khoản cho vay cũ sẽ lần lần đến hạn. Vì vậy kết cấu danh mục cho vay thƣờng xuyên thay đổi tỷ trọng đối tƣợng khách hàng, lĩnh vực ngành nghề, và khu vực địa lý.
Bên cạnh đó, bản thân các khoản cho vay riêng lẻ luôn tồn tại rủi ro riêng có do đặc thù hoạt động tín dụng tiềm ẩn sự bất cân xứng thông tin hay thông tin không đầy đủ, ngoài ra danh mục cho vay là tập hợp các khoản cho vay riêng lẻ, dẫn tới danh mục cho vay không chỉ tồn tại các rủi ro các khoản cho vay riêng lẻ mà còn tiềm ẩn rủi ro danh mục cho vay. Cấu trúc danh mục cho vay Danh mục cho vay đƣợc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc sắp xếp cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các danh mục cho vay thích hợp và nâng cao quản lý danh mục cho vay. Ngoài ra nghiên cứu kết cấu cho vay còn là điều kiện phục vụ cho mục đích quản lý, đánh giá chất lƣợng cho vay và định hƣớng quản lý danh mục cho vay theo chiến lƣợc chủ động.
Căn cứ vào thời hạn cho vay Các ngân hàng quản lý các khoản vay theo kỳ hạn, theo dõi tỷ trọng các khoản cho vay ngắn hạn so với trung dài hạn và việc quyết định cấp tín dụng theo thời hạn rất quan trọng trong quản lý danh mục cho vay và việc xây dựng danh mục cho vay hƣớng tới nhóm các khoản vay ngắn hạn hay hƣớng tới các nhóm cho vay dài hạn phụ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng và phòng ngừa các loại rủi ro khác nhƣ rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. Thời hạn cho vay là khoảng thời gian đƣợc tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời 17 điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã đƣợc thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Trong tiêu thức này, tín dụng đƣợc chia làm 3 loại sau [21]: Thứ nhất, Cho vay ngắn hạn. Đây là loại cho vay có thời hạn từ một năm trở xuống.
Loại cho vay này thƣờng đƣợc sử dụng để cho vay bổ sung vốn lƣu động thiếu hụt tạm thời của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Thứ hai, Cho vay trung hạn. Đây là loại cho vay có thời hạn từ trên 1-5 năm (có nƣớc quy định 7 năm). Cho vay trung hạn thƣờng đƣợc sử dụng cho vay đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Thứ ba, Cho vay dài hạn. Đây là loại tín dụng vốn cố định có thời hạn trên 5 năm (hoặc 7 năm). Cho vay dài hạn sử dụng vốn vay vào mục đích chủ yếu đầu tƣ hình thành mới tài sản cố định và thời hạn thu hồi vốn dài. Căn cứ lĩnh vực cho vay, khu vực địa lý Theo ngành nghề kinh tế cho vay chia theo lĩnh vực hoạt động của khách hàng vay vốn nhƣ ngành xây dựng, nông nghiệp, viễn thông, dầu khí.
Mỗi ngành nghề kinh tế có những đặc điểm khác nhau, đồng thời chịu ảnh hƣởng của các yếu tố khách quan khau nhau. Mỗi biến động của tình hình kinh tế xã hội sẽ ảnh hƣởng tích cực đến ngành nghề này nhƣng có thể ảnh hƣởng tiêu cực đến lĩnh vực khác, đồng thời mức độ ảnh hƣởng sẽ khác nhau giữa các ngành nghề kinh tế. Theo khu vực địa lí cho vay sẽ chia theo đối tƣợng khách hàng hoạt động tại khu vực thuộc phạm vi địa lí khác nhau nhƣ miền trung, miền bắc, miền nam. Mỗi khu vực sẽ có những đặc điểm kinh tế xã hội và các thế mạnh khác nhau.
Do đó, ngân hàng cần hiểu rõ đặc điểm của từng khu vực để phân bổ danh mục cho vay giữa các khu vực, ngành nghề nhằm phát huy các thế mạnh và hạn chế thế yếu của các khu vực đó tức là danh mục cho vay hƣớng tới những nhóm cho vay có lợi thế hơn tùy thuộc vào từng giai đoạn và vùng miền khác nhau. Căn cứ vào mức độ đảm bảo + Cho vay có đảm bảo: Đây là loại tín dụng mà trƣớc khi cho vay ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản làm đảm bảo hoặc có một ngƣời thứ ba đứng ra bảo lãnh cho khoản tiền vay. Thông thƣờng những tài sản làm đảm bảo là bất động sản hoặc động sản nhƣ: giấy tờ có giá, trang thiết bị.