mở đầu, tiên phong cho sự phát triển của lý luận đánh giá HS. Hai ông đã 11 thực hiện công trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp nhà nước và cho ra đời cuốn sách “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của HS phổ thông”(3/1995)[27]. Tài liệu làm nền tảng cho việc tiếp cận các khái niệm, các thuật ngữ về đánh giá giáo dục cũng như những yêu cầu về nội dung và kỹ thuật đánh giá. Tác giả Dương Thiệu Tống cũng cho xuất bản cuốn “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập” năm 1995, tái bản năm 2005 [36].
Cuốn sách là một đóng góp to lớn cho giáo dục Việt Nam về phần đánh giá định lượng kết quả học tập của HS. Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh với “Đánh giá và đo lường kết quả học tập” [28] đã hệ thống rất đầy đủ các thuật ngữ và khái niệm, các nguyên tắc, phương pháp, kĩ thuật, các nội dung đánh giá trong giáo dục. Những nghiên cứu tiếp tục đề cập đến các thuật ngữ, khái niệm với các nguyên tắc đánh giá, kỹ thuật đánh giá, quy trình đánh giá có thể kể đến nghiên cứu của Đỗ Thị Thúy Hằng với cuốn sách mang tên “Đánh giá trong giáo dục” [12] dành cho các sinh viên, học viên đang theo học Chương trình cử nhân và cao học quản lý giáo dục. Tài liệu này đã cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản làm nền tảng cho việc kiểm tra, đánh giá trong giáo dục.
Tác giả Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh đã nghiên cứu đánh giá HS theo tiếp cận năng lực và xuất bản giáo trình “Kiểm tra đánh giá trong giáo dục” [21]. Đây là cuốn sách có giá trị rất lớn trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay về lĩnh vực đánh giá HS theo định hướng phát triển năng lực. Ngoài ra còn có các nghiên cứu về đánh giá HS tiểu học như: tài liệu bồi dưỡng GV“Đánh giá ở tiểu học” của các tác giả Vũ Thị Phương Anh và Hoàng Thị Tuyết [1];“Đánh giá trong giáo dục tiểu học” của tác giả Phó Đức Hòa [17],… đã cung cấp cho người đọc những kiến thức về khái niệm, nội dung, quy trình, phương pháp, kĩ thuật,…đánh giá trong giáo dục tiểu họ Tác phẩm Quản lí nhà trường [6] của tác giả Nguyễn Phúc Châu (2010) đã đưa ra các yêu cầu về QLĐG kết quả dạy học: 12 Đánh giá chính xác kết quả của người dạy, trong đó có việc đánh giá kết quả người học của người dạy. Đánh giá chính xác kết quả người học về các mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ.
Phát huy được hoạt động tự đánh giá trong dạy học. Các hoạt động quản lý chủ yếu để thực hiện các yêu cầu trên là: Quản lý người dạy thực hiện việc đánh giá KQHT của người học theo đúng các quy định của các cơ quan QLGD; Tổ chức hoạt động đánh giá chất lượng và hiệu quả giảng dạy của người dạy; Tổ chức hoạt động tự đánh giá kết quả dạy học của người dạy và người học. Như vậy, QLĐG kết quả dạy học gắn liền với quản lý đánh giá KQHT của người học. Qua nghiên cứu tài liệu, bản thân nhận thấy vấn đề đánh giá và đổi mới hoạt động đánh giá HS nói chung, đã được thể hiện rất rõ ràng và cụ thể trong các nghiên cứu đánh giá của các tác giả.
Các nghiên cứu đã chú trọng đến phương thức đánh giá HS, mỗi công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào về quản lý hoạt động đánh giá của HS tiểu học theo hướng đổi mới trong các trường tiểu học. Các nghiên cứu nêu trên là gợi mở quý giá, chỉ ra lý luận cũng như hướng vận dụng trong nghiên cứu đề tài về quản lý hoạt động đánh giá HS theo hướng đổi mới ở các trường tiểu học huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Một số khái niệm cơ bản.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động trong xã hội loài người. Nơi nào có hoạt động chung thì nơi đó có quản lý.Mác đã chỉ rõ: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân… Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [19,tr. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu 13 nhất định”.
Trong khía cạnh khác: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [29, tr. Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [15, tr. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song quản lý được hiểu là một loại hoạt động xã hội, luôn gắn liền với một nhóm người hay một tổ chức xã hội nào đó. Theo nghĩa chung nhất, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có định hướng, mục đích, kế hoạch, hệ thống của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua việc lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức và kiểm tra các hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã định.
Quản lý giáo dục. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái chất lượng mới về chất” [30,tr.68] Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”.89] Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giáo dục của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội” [22, tr. 14 "Quản lý giáo dục ở cấp độ quản lý trường học (cơ sở giáo dục): là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, nhân viên, người dạy, người học, cha mẹ người học hay người đỡ đầu, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, và cơ hội nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu giáo dục.”[23] Từ những quan niệm trên chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Nhà giáo dục và tâm lí học nổi tiếng của Mỹ (Ralf Tyler), được coi là một trong những người đầu tiên đưa ra khái niệm đánh giá trong giáo dục, ông sử dụng thuật ngữ đánh giá để biểu thị quy trình đánh giá sự tiến bộ của người học theo các mục tiêu đạt được.
Theo tác giả Trần Bá Hoành: “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích các thông tin thu được, đối chiếu với các mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng công việc.” [18] Theo tác giả Đỗ Thị Thúy Hằng “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin có hệ thống và lý giải về hiện trạng chất lượng, nguyên nhân, kế hoạch hành động. Đánh giá xuất phát từ các mục tiêu, các chuẩn mực đặt ra. Đánh giá tạo căn cứ đề xuất các quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, đề xuất các chương trình hành động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động.”[12] Theo Nguyễn Hữu Hợp: “Đánh giá là quá trình xử lý những thông tin thu thập được qua kiểm tra trên cơ sở đối chiếu mục tiêu đã xác định, điều 15 kiện thực hiện, kết quả đạt được và từ đó, đưa ra phán quyết về mức độ phù hợp giữa kết quả và mục tiêu” [20, tr. Từ sự phân tích trên có thể hiểu: Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, những phán đoán về thực trạng dựa vào phân tích thông tin thu được trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm xác định mức độ kết quả đạt được để đưa ra các quyết định phù hợp.
Đánh giá người học theo quan điểm phát triển năng lực. Năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể; theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Như vậy năng lực là những kiến thức‚ những kỹ năng cũng như khả năng và hành vi của bản thân một người nào đó để đáp ứng‚ thực hiện một công việc‚ nhiệm vụ nào đó khi được giao phó và phải bảo đảm cho công việc‚ nhiệm vụ trên được hoàn thành hiệu quả ở mức độ cao nhất‚ trong thời gian nhanh nhất.
Năng lực là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác, cũng là một trong những thước đo để đánh giá các cá nhân với nhau. Đánh giá kết quả học tập theo quan điểm tiếp cận năng lực cần chú trọng vào khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Hay nói cách khác, đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ trong những bối cảnh có ý nghĩa.