Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý cơ sở vật chất trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Chương 3. Biện pháp quản lý cơ sở vật chất trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT TRONG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠNG TRẺ Ở CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về cơ sở vật chất trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường mầm non Trên thế giới, các nước có nền kinh tế phát triển đều quan tâm và đầu tư CSVC của các nhà trường ở tất cả các bậc học. Từ diện tích khuôn viên của nhà trường đến phòng học, phòng thí nghiệm, thư viện, xưởng trường nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục mỗi nước.
Cụ thể: Ở Nga, Hà Lan người ta chú ý đến việc trang bị những phương tiện truyền thống cho các phòng học bộ môn. Ở Đức, Ba Lan, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Singapore. là những nước đầu tư rất nhiều cho việc trang bị cơ sở vật chất (CSVC) đầy đủ và hiện đại, nhất là các phương tiện nghe nhìn. Ở Mỹ, có giai đoạn phổ biến là dùng máy thay cho giáo viên trong giảng dạy, do vậy việc nghiên cứu và trang bị các phương tiện hiện đại rất quan trọng…[24].
Từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX ở nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹ đã có quan điểm trong điều kiện nguồn lực không tăng tỷ lệ thuận với quy mô đào tạo, các cơ sở giáo dục phải quan tâm nhiều hơn đến hiệu suất sử dụng các nguồn lực., Davies G đã đưa ra cơ chế khuyến khích điều tiết, chuyển đổi CSVC giữa các khu vực trong nhà trường [35]. đã trình bày khá cụ thể về tình hình quản lý CSVC tại một số cơ sở giáo dục ở Hoa Kỳ, Canada, Bỉ, Nga, Phần Lan, Hà Lan, Anh và Châu Mỹ La tinh về tình hình quản lý khai thác CSVC như phòng học, phòng thí nghiệm, khu vực giảng đường…đồng thời phân tích ưu, nhược điểm của một số trường hợp [36]. Ở Việt Nam, CSVC đóng vai trò quan trọng trong tất cả các hoạt động của các bậc học. CSVC là yếu tố, là điều kiện để thực hiện tất cả các hoạt động trong nhà trường.
Đối với bậc học mầm non, thực hiện chức năng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ đã có 1 số văn bản qui định về cơ sở vật chất, trang thiết bị của Bộ GD& ĐT, của ngành như: Thông tư số 01/2015/VBHN-BGDĐT ban 6 hành danh mục đồ dùng – đồ chơi – thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho giáo dục mầm non. Nội dung thông tư này là cơ sở để các trường MN tiến hành đầu tư mua sắm thiết bị trong chăm sóc nuôi dưỡng và dạy học trẻ MN [12]; Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT ban hành quy định tiêu chuẩn về địa điểm, quy mô, diện tích; Tiêu chuẩn CSVC tối thiểu; Tiêu chuẩn CSVC mức độ 1 và mức độ 2 [9]. Quyết định số 878/2021/QĐ-BGDĐT đã ban hành thiết kế mẫu nhà vệ sinh cho các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông làm căn cứ để các cơ sở giáo dục MN, phổ thông lựa chọn mô hình nhà vệ sinh, xác định quy mô phục vụ, tính toán số lượng thiết bị, thiết kế hệ thống kỹ thuật, vật liệu phù hợp với thực trạng và nhu cầu sử dụng, đây cũng là căn cứ để thiết kế, thẩm tra, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà vệ sinh trong các cơ sở giáo dục MN, phổ thông [11]. Nghiên cứu cơ sở vật chất ở trường mầm non đã có 1 số công trình nghiên cứu khoa học sau: Tác giả Đinh Thị Thu Hằng và cộng sự (2019) với bài viết “Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị và điều kiện vệ sinh tại 3 trường mầm non huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá năm 2018”.
Bài viết đã đánh giá CSVC tại 3 trường MN huyện Quảng Xương theo các tiêu chí: Địa điểm xây dựng, quy hoạch, cung cấp nước, các công trình vệ sinh, các dụng cụ vệ sinh, thực trạng phòng y tế, nhà bếp, các điều kiện về phòng học, trang thiết bị phòng học. Nghiên cứu cho thấy tại 3 trường MN các thiết bị, đồ dùng ở khu vệ sinh đều được trang bị đầy đủ, những trang thiết bị này đảm bảo vệ sinh cho trẻ, giúp trẻ phòng tránh những bệnh lây lan và các bệnh đường tiêu hóa khác. Như vậy, khảo sát các trường mầm non huyện Quảng Xương cho thấy CSVC đã đáp ứng những tiêu chuẩn cơ bản về điều kiện vệ sinh trường [19]. Tác giả Nguyễn Thị Thủy và cộng sự trong bài viết “Thực trạng quản lý thiết bị và đồ chơi ngoài trời ở các trường mầm non thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu” đã khẳng định chất lượng giáo dục quyết định sự tồn tại và phát triển của các cơ sở giáo dục và đào tạo nói chung và trường mầm non nói riêng.
Đối với giáo dục mầm non, thiết bị và đồ chơi ngoài trời không chỉ phục 7 vụ cho việc dạy học của cô và trò tốt hơn mà còn có vai trò quan trọng trong việc giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng - một hoạt động vô cùng quan trọng đối với trường MN. Do đó để nâng cao chất lượng giáo dục, ngoài việc đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức thì quản lý thiết bị và đồ chơi ngoài trời có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Tác giả đã tiến hành khảo sát 312 CBQL, GV và 168 phụ huynh có con đang theo học ở 25 trường MN trên địa bàn thành phố Vũng Tàu về thực trạng quản lý thiết bị và đồ chơi ngoài trời. Kết quả cho thấy việc quản lý thiết bị và đồ chơi ngoài trời hiện đang được thực hiện khá, nhưng vẫn còn những hạn chế về nhận thức của 1 bộ phận CBQL trong lập kế hoạch xây dựng, đầu tư, trang bị; quản lý việc khai thác, sử dụng, thiết bị và đồ chơi ngoài trời.
Do vậy, công tác bảo quản, cải tạo, sửa chữa CSVC, bổ sung trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng CSVC, thiết bị và đồ chơi ngoài trời ở các trường mầm non [31]. Như vậy, các công trình nghiên cứu về CSVC đã cho thấy vai trò quan trọng của CSVC trong các cơ sở giáo dục. Vì vậy, các nhà trường nói chung, trường MN nói riêng cần tăng cường đầu tư, mua sắm, sử dụng và bảo quản CSVC, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ. Những nghiên cứu về quản lý cơ sở vật chất trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý cơ sở vật chất nhằm phục vụ các hoạt động trong nhà trường, trong đó có hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường MN.
Cụ thể: Tác giả Hà Thế Truyền (2009) với tài liệu học tập “Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục” đã nêu lên tầm quan trọng của quản lý cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục. Trên cơ sở đó đã đưa ra những biện pháp quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học trong tình hình mới [32]. Tác giả Nguyễn Phi Phượng (2014) nghiên cứu “Quản lý cơ sở vật chất trong các trường mầm non quận 11 thành phố Hồ Chí Minh” đã khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý cơ sở vật chất trong các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tại các trường mầm non quận 11, thành phố Hồ Chí Minh thể 8 hiện qua các khâu xây dựng, mua sắm và trang bị phương tiện kỹ thuật và TBDH, quản lý sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng CSVC. Trên cơ sở đó, luận văn cũng đã đề xuất các giải pháp quản lý CSVC trong các trường mầm non quận 11, thành phố Hồ Chí Minh đạt hiệu quả [27].
Tác giả Triệu Thị Hằng (2016) nghiên cứu: “Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non Hoa Hồng, quận Đống Đa, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay”, tác giả đã khái quát hoá cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non Hoa Hồng, quận Đống Đa, Hà Nội trong đó có chỉ rõ CSVC, trang thiết bị phục vụ công tác chăm sóc, nuôi dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. CSVC xuống cấp, các trang thiết bị thiếu hoặc không hiện đại sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, thậm chí là không an toàn và đảm bảo vệ sinh cho trẻ. Đồng thời khi có đủ đồ dùng thiết bị sẽ giúp trẻ thao tác vệ sinh cá nhân đúng cách, quá đó trẻ học được cách sử dụng đồ dùng, trang thiết bị dẫn đến việc quản lý chỉ đạo công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ thuận lợi hơn [18]. Tác giả Lê Thị Hà (2018) nghiên cứu “Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non huyện Simacai - tỉnh Lào Cai theo hướng đảm bảo chất lượng giáo dục”.
Luận văn đã hệ thống hoá lý luận về quản lý CSVC trong các trường MN; Phân tích, đánh giá thực trạng về công tác quản lý CSVC theo hướng đảm bảo chất lượng của các trường MN huyện Si Ma Cai trong các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất năm biện pháp quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non [15]. Đánh giá chung: Như vậy, nghiên cứu về quản lý CSVC, trang thiết bị trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường mầm non đã có 1 số công trình nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các trường mầm non theo qui định của thông tư, nghị định hiện nay.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu các công trình đã đề xuất 1 số biện pháp quản lý CSVC trong nhà trường mầm non, đây là những tài liệu hữu dụng giúp tác giả tiếp tục nghiên cứu, kế thừa. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên 9 cứu quản lý CSVC trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường MN thành phố Thanh Hoá hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1.