Chương 1: Khái quát về chương trình giáo dục và phát triển chương trình giáo dục Chương 2: Quy trình phát triển chương trình giáo dục; Chương 3: Phát triển chương trình giáo dục nhà trường; Chương 4: Quản lí chương trình giáo dục. Nội dung giáo trình đi từ những vấn đề chung như khái niệm, chức năng của chương trình giáo dục tới mô hình, quy trình phát triển chương trình giáo dục cụ thể. Bernd Meier – TS. Nguyễn Văn Cường, “Lý luận dạy học hiện đại cơ sở đổi mới, mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học”, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội, 2016 [11].
Các tác giả nhận định luận dạy học là lí thuyết khoa học về việc dạy và học, là một lĩnh vực trung tâm của khoa học giáo dục. Trong chương trình đào tạo giáo viên, lí luận dạy học có một vị trí quan trọng trong hệ thống các môn học khoa học giáo dục, góp phần hình thành năng lực nghề nghiệp của người giáo viên, bao gồm các năng lực giáo dục và dạy học, năng lực chẩn đoán, đánh giá và năng lực phát triển nghề nghiệp. Trong chương trình đào tạo giáo viên bậc Cử nhân, người học được đào tạo về lí luận dạy học đại cương, lí luận dạy học chuyên ngành cũng như thực tiễn dạy học thông qua các chương trình thực tập sư phạm. Trong chương trình tạo giáo viên trình độ Thạc sĩ, học viên tiếp tục được đào tạo sâu hơn về lí luận dạy học.
Cuốn sách giúp học viên hiểu rõ hơn đến giáo dục và lí luận dạy học. Cuốn sách góp phần cung cấp những cơ sở lý thuyết và những gợi ý cho việc đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp và đánh giá trong đổi mới giáo dục. Một số công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí và hội thảo khoa học: Vương Nhất Binh (4/2000), Đảm bảo chất lượng đào tạo trong giáo dục đại học : Kinh nghiệm của một số nước, Tham luận tại hội thảo "Đảm bảo chất lượng đào tạo" [10], Đại học Quốc gia Hà Nội (2000), Ki yếu 11 hội thảo: Nâng cao chất lượng đào tạo; Đặng Thành Hưng (2004). Những chức năng cơ bản của chương trình giáo dục.
Tạp chí Giáo dục. 13-15] Đây là những công trình quan trọng để học viện có thể kế thừa và làm rõ những nội dung về lý luận, cũng như là cơ sở để nghiên cứu thực tiễn quản lý chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử theo định hướng phát triển năng lực giải quyết các vụ án. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chương trình đào tạo Chương trình đào tạo là một thuật ngữ ra đời từ thế kỷ XIX và hiện nay được sử dụng rất phổ biến trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực giáo dục đào tạo.
Có nhiều quan điểm khác nhau, cũng như khái niệm khác nhau về “Chương trình đào tạo”. Trong lịch sử thuật ngữ “Chương trình đào tạo” xuất hiện từ năm 1820, nhưng phải đến giữa thế kỉ XX, thuật ngữ này mới được sử dụng một cách chuyên nghiệp ở Hoa Kì và một số nước có nền giáo dục phát triển. Có quan điểm cho rằng “Chương trình đào tạo” có gốc Latinh là Currere, có nghĩa là “to run” (chạy, điều hành hoặc “to run a course” – điều hành một khóa học). Do vậy, định nghĩa truyền thống của chương trình đào tạo là “một khóa học” (Course of Study) [65].
Có quan điểm khác lại cho rằng: “Chương trình đào tạo có thể được định nghĩa là hệ thống các hoạt động nhằm phát hiện khả năng hoặc hoàn thiện người học [62]”. Như vậy, theo cách hiểu này chương trình đào tạo có là tập hợp hệ thống các hoạt động, các hoạt động này tương đối độc lập để có những dấu hiệu đặc trưng riêng, nhưng nó cũng có sự liên hệ tác động qua lại với nhau và nằm trong một chỉnh thể thống nhất là chương trình đào tạo. Đi cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội đòi hỏi nguồn nhân lực phải có chất lượng hơn như khả năng làm việc hiệu quả hơn…Điều đó đòi hỏi 12 nhiều môn học mới được đưa thêm vào chương trình đào tạo. Sự khác biệt giữa người học đã trở nên rõ rệt hơn đối với giảng viên và các nhà quản lí, định nghĩa về chương trình đào tạo được mở rộng hơn [14].
Chương trình đào tạo được phân thành nhiều loại khác nhau: chương trình đào tạo cho khối cơ bản, khối kĩ thuật, khối thực hành. Cũng có quan điểm cho rằng “Chương trình đào tạo bao gồm tất cả những hiểu biết và kinh nghiệm mà người học có được sự hướng dẫn của nhà trường [64]”. Theo quan điểm này thì chương trình đào tạo bao gồm tất cả các tri thức hiểu biết và kinh nghiệm lịch sử xã hội về một lĩnh vực nhất định mà chủ thể đào tạo muốn người học đạt được sau khi hoàn thành khóa học. Hiện nay, quan niệm về chương trình đào tạo ngày càng rộng và hoàn chỉnh hơn, không chỉ là việc trình bày mục tiêu cuối cùng và bảng danh mục các nội dung giảng dạy.M (1990) [63] đã mô tả bốn nhóm thành tố cơ bản và mối quan hệ giữa chúng được đặt trong bối cảnh quốc gia: (i) Mục đích và chuẩn đầu ra (ii) Phạm vi và nội dung (iii) Phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kinh nghiệm học tập (iv) Đánh giá kết quả giáo dục Chương trình đào tạo (là trung tâm) Như vậy, cấu trúc của chương trình bao gồm hai nhóm thành phần chính: kết quả kì vọng mà người học sẽ đạt được sau một thời gian học tập và cách thức, phương tiện, con đường, điều kiện để đạt được những kì vọng đó.
Từ những lập luận trên có thể đưa ra khái niệm về chương trình đào tạo như sau: Chương trình đào tạo là kế hoạch tổng thể, hệ thống về toàn bộ hoạt động đào tạo, bao gồm: mục đích đào tạo, mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung đào tạo (với độ rộng và sâu), phương thức đào tạo và hình thức tổ chức đào tạo (với các phương pháp, phương tiện, công cụ dạy học), phương thức đánh giá kết quả đào tạo (trong so sánh, đối chiếu với chuẩn đầu ra). Khái niệm chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014, quy định tại các Điều 24, 25 như sau [39]: “Điều 24. Bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao Bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao gồm các vụ và các đơn vị tương đương. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tổ chức bộ máy; nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong bộ máy giúp việc.
Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Tòa án nhân dân tối cao 1. Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ đào tạo; bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm, các chức danh khác của Tòa án nhân dân. Việc thành lập cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Tòa án nhân dân tối cao được thực hiện theo quy định của luật.” Trên cơ sở quy định của Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009; Luật Giáo dục đại học ngày 18 tháng 6 năm 2012; Luật tổ chức Tòa án, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định 1191/QĐ-TTg ngày 30 tháng 07 năm 2015 về việc thành lập Học viện Tòa án. Học viện Tòa án đã đi vào hoạt động và xây dựng phát triển các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ công chức trong hệ thống Tòa án, trong đó có chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử.
Chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử tại Học viện Tòa án có mục tiêu là đào tạo nguồn cán bộ bổ nhiệm Thẩm phán sơ cấp. Chương trình hướng tới việc trang bị cho học viên các phẩm chất, kỹ năng và năng lực cụ thể nhằm nâng cao nhận thức nghề nghiệp, rèn luyện bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp của một người Thẩm phán. Trang bị kỹ năng nghiệp vụ 14 cơ bản của một người Thẩm phán sơ cấp: khả năng tư duy pháp lý, áp dụng pháp luật, khả năng diễn đạt, khả năng viết, khả năng điều hành phiên tòa trong hoạt động xét xử. Học viên tham gia khóa đào tạo nghiệp vụ xét xử tại Học viện Tòa án là cán bộ đang làm việc trong hệ thống Tòa án, giữ các chức danh như Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên Tòa án và các đối tượng khác do Tòa án nhân dân tối cao quy định có trình độ từ cử nhân Luật trở lên, được Tòa án nhân dân tối cao cử đi đào tạo nghiệp vụ xét xử.
Thời gian đào tạo tổng thời gian đào tạo là 08 tháng, không kể thời gian nghỉ lễ, Tết theo quy định. Tổng số là 1. [48] Như vậy có thể đưa ra khái niệm về chương trình đào tạo như sau: Chương trình đào tạo là, kế hoạch tổng thể, hệ thống về toàn bộ hoạt động đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân, bao gồm: mục đích đào tạo nghiệp vụ xét xử, mục tiêu, chuẩn đầu ra chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử, nội dung đào tạo nghiệp vụ xét xử (với độ rộng và sâu), phương thức đào tạo và hình thức tổ chức đào tạo nghiệp vụ xét xử (với các phương pháp, phương tiện, công cụ dạy học), phương thức đánh giá kết quả đào tạo nghiệp vụ xét xử. Khái niệm quản lý chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử theo hướng phát triển năng lực giải quyết các vụ án Quản lý nói chung hay quản lý chương trình đào tạo nói riêng trong các tổ chức đào tạo là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung.
Quản lý nói chung hay quản lý chương trình đào tạo nói riêng bao gồm những nội dung sau: Xây dựng kế hoạch: xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm trong tương lai (ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm sau, trong 5 năm sau.) lên các kế hoạch hành động. Tổ chức thực thực hiện: sử dụng một cách tối ưu các tài nguyên được 15 yêu cầu để thực hiện kế hoạch. Bố trí nhân lực: phân tích công việc, tuyển mộ phân công từng cá nhân cho từng công việc thích hợp. Lãnh đạo triển khai thực hiện: Giúp các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn để đạt được các kế hoạch (khiến các cá nhân sẵn lòng làm việc cho tổ chức).