mở đầu bằng những yêu cầu của xã hội cụ thể hóa theo từng giai đoạn vào mục tiêu và phương thức đào tạo và khâu cuối cùng của quá trình ấy là những phẩm chất nhân cách của học sinh (bao hàm cả năng lực hành động), được bộc lộ trong khi các em thực hiện chức năng của mình trong xã hội. Quá trình đào tạo bao giờ cũng là vòng tròn khép kín có mối hàn là hoạt động sản xuất xã hội (Phạm Minh Hạc, 2003). Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách. Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định.
Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giáo dục thì việc đào tạo mới đạt hiệu quả cao. 5 c Vai trò của giáo dục – đào tạo : Tổng hợp nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Thu Hà (2014) và Trần Duy (2015) về vai trò của giáo dục, đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực bao gồm: - Giáo dục – đào tạo là động lực, là đòn bẩy cho sự phát triển của xã hội, của đất nước: xã hội ngày càng phát triển, sự phát triển của xã hội loài người chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, các yếu tố này được gọi là nguồn lực. Có nhiều nguồn lực tác động đến sự phát triển của xã hội, đất nước, trong đó có nhân lực, tài lực, vật lực là những nguồn lực chủ yếu. Trong ba nguồn lực này, nhân lực trở thành nguồn lực chủ đạo, có tính chất quyết định.
Con người tồn tại với hai tư cách: vừa là chủ thể của xã hội vừa là khách thể của xã hội. Với tư cách là chủ thể của xã hội, con người trực tiếp tham gia vào mọi hoạt động nhằm phát triển xã hội và đất nước. Với tư cách này, con người là động lực, là đòn bẩy của mội sự phát triển xã hội. Với tư cách là khách thể của xã hội, mọi hoạt động đều nhằm vào phục vụ con người, phát triển con người.
Như vậy, con người là mục tiêu của mọi sự phát triển; - Giáo dục – đào tạo là thước đo sự phát triển của một đất nước: Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới đã cho chúng ta thấy: Hai đất nước có cùng xuất phát điểm ban đầu như nhau về kinh tế - xã hội, cùng trình độ phát triển như nhau, nhưng chỉ sau một thời gian có sự cách biệt nhau về kinh tế - xã hội; một nước phát triển nhanh, có trình độ khoa học kỹ thuật cao, một nước ngược lại rơi vào trì trệ, phát triển chậm chạp, thậm chí tụt hậu dần. Đi tìm nguyên nhân của điều này, người ta dễ nhận ra rằng nước nào chú trọng, quan tâm đến giáo dục – đào tạo thì sẽ phát triển nhanh, và ngược lại. Theo tinh thần ấy, giáo dục – đào tạo là thước đo sự phát triển của một quốc gia, một dân tộc. Trình độ dân trí, trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ thể hiện trình độ phát triển của đất nước.
- Giáo dục đào tạo là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa hiện đạo hóa đất nước: Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ. Để công cuộc ấy được thành công, đòi hỏi bắt buộc phải đào tạo được một đội ngũ lao động có trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ cao, có tay nghề thành thạo, phục vụ đắc lực và kịp thời cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội, phải có một nền khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Trong khi đó, trình độ dân trí của nhân dân ta còn thấp, lực lượng lao động đã qua đào tạo và tỷ lệ công nhân bậc cao còn quá ít, nền khoa học kỹ thuật công nghệ còn chưa đáp ứng được những đòi hỏi của các 6 c lĩnh vực kinh tế - xã hội. Bất cập này chỉ có thể khắc phục được nhờ sự nghiệp giáo dục – đào tạo.
Vai trò của chi thường xuyên Ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo Chi thường xuyên ngân sách Nhà nước có vai trò rất quan trọng để đảm bảo kinh phí chủ yếu cho sự nghiệp giáo dục duy trì và phát triển theo đúng định hướng của Nhà nước và đây là nguồn tài chính cơ bản. Vai trò của chi thường xuyên NSNN cho giáo dục – đào tạo được cụ thể như sau: Đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của hệ thống giáo dục: Chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tư cho giáo dục là ngân sách nhà nước. Nhà nước cung cấp các phương tiện vật chất, mua sắm, sửa chữa trang thiết bị, đồ dùng giảng dạy. Hằng năm do quy mô giáo dục mở rộng, tiếp đó là cơ sở vật chất xuống cấp, lạc hậu nên cần có kinh phí cải tạo, xây mới, mở rộng.
Tiếp đó, 80% chi thường xuyên NSNN hiện nay dùng để đảm báo đời sống vật chất cho đội ngũ cán bộ giáo viên và những người làm công tác quản lý trong ngành giáo dục. Khoản chi này bao gồm lương, phụ cấp lương, các khoản phúc lợi khác. Đây là khoản không thể thiếu, để bù đắp và tái sản xuất sức lao động cho đội ngũ cán bộ trong ngành, tiếp đó giúp cho đời sống cán bộ trong ngành được ổn định (Vũ Văn Phong, 2016). Là công cụ điều chỉnh cơ cấu ngành giáo dục theo cấp học, theo vùng miền khác nhau.
Mỗi cấp học, mỗi vùng đều có những điều kiện nhất định về chất lượng giảng dạy và điều kiện trang thiết bị cho học tập và giảng dạy. theo định hướng chủ trương của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn nhất định sẽ phân bổ nguồn chi có sự khác nhau giữa các vùng miền, cấp học. Đặc biệt luôn có sự ưu tiên cho các vùng khó khăn. Tăng đầu tư tại các vùng này có thêm nguồn lực để xây dựng thêm cơ sở vật chất, thu hút được giáo viên có trình độ về dạy tại các vùng này.
Thông qua chi ngân sách sẽ điều tiết được cơ cấu chi cho các vùng khác nhau từ đó cơ cấu ngành giáo dục sẽ theo định hướng của Nhà nước (Vũ Văn Phong, 2016). Chi thường xuyên ngân sách Nhà nước là điều kiện quan trọng quyết định sự phát triển giáo dục. Chi thường xuyên NSNN được coi là yếu tố quan trọng của quá trình phát triển trong sự nghiệp giáo dục, do đó phát triển giáo dục được coi là mục tiêu, động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, đòi hỏi phải có nỗ lực, cố gắn của toàn ngành. Tuy nhiên, hiện nay do nguồn thu ngoài 7 c ngân sách còn hạn chế thì kinh phí từ ngân sách nhà nước đóng vài trò quan trọng trong việc hiện đại hóa cơ sở vật chất, thực hiện tốt các chủ trương chính sách về phát triển giáo dục của Nhà nước nói cách khác nguồn kinh phí từ ngân sách có vai trò chủ yếu nhất đưa sự nghiệp giáo dục phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của phát triển xã hội hiện nay (Vũ Văn Phong, 2016).
Nội dung chi thường xuyên Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo Chi thường xuyên NSNN là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh (Chính phủ, 2015). Căn cứ vào Quyết định số 186/QĐ – TTg ngày 10 tháng 02 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ thì dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm: - Chi ngân sách cho hệ thống các trường học có: + Chi ngân sách cho hệ thống các trường mầm non và các trường phổ thông; + Chi ngân sách cho các trường đại học, các học viện, các trường cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; + Chi cho các trường Đảng, đoàn thể; - Chi ngân sách cho các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo như: Bộ giáo dục đào tạo, Sở giáo dục, phòng giáo dục. Đối với các khoản chi thường xuyên căn cứ vào đối tượng của việc sử dụng kinh phí NSNN có thể chia thành 4 nhóm mục chi sau: + Các khoản chi cho con người: Chi lương, các khoản phụ cấp theo lương, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, chi phúc lợi tập thể cho giáo viên, cán bộ nhân viên, chi học bổng và trợ cấp cho học sinh sinh viên, tiền công.; + Chi về quản lý hành chính, chi về công tác phí, công vụ phí, điện nước, xăng xe, văn phòng phẩm, chi hội nghị về công tác quản lý; + Chi cho hoạt động chuyên môn: Chi mua tài liệu, đồ dùng giảng dạy và 8 c học tập chi hội thảo, hội giảng, chi cho các lớp bồi dưỡng học sinh bồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề về chuyên môn; + Chi mua sắm, sửa chữa, xây dựng nhỏ phục vụ cho hoạt động chuyên môn như: Mua sắm bàn ghế, bảng và các trang thiết bị khác, sửa chữa nhỏ trong trường.; Hầu hết các khoản chi trên là những khoản chi phát sinh thường xuyên, tương đối ổn định và có thể định mức được. Do vậy trong công tác quản lý các khoản chi này phải lấy định mức làm cơ sở, riêng các khoản mua sắm sửa chữa nhỏ không phát sinh thường xuyên nên phải căn cứ vào thực trạng nhà cửa trang thiết bị, chế độ chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ và đặc biệt là khả năng nguồn vốn của NSNN để cấp phát và chi tiêu.
Quản lý chi thường xuyên Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục- đào tạo cấp huyện 2.