đặt vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn vốn ĐTPT là khâu hết sức quan trọng, trong đó có hoạt động chi ĐTPT từ nguồn vốn NSNN ở ngành, địa phƣơng đang là vấn đề đƣợc quan tâm nhằm đẩy mạnh hoạt động phát triển kinh tế xã hội ở cấp địa phƣơng, giải phóng bớt gánh nặng ngân sách cho Chỉnh phủ. Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và có những bƣớc phát triển vƣợt bậc về đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế nhờ huy động đƣợc nguồn vốn đầu tƣ từ các quỹ tiền tệ quốc tế, các tổ chức đầu tƣ tài chính,. Giai đoạn này, ĐTPT ở Việt Nam đƣợc các tổ chức quốc tế quan tâm, nghiên cứu và thƣờng xuyên có các báo cáo đánh giá công bố đột xuất, thƣờng niên; các ấn phẩm, nghiên cứu, đánh giá trong đó có đề cập đến ĐTPT của Việt Nam. Cụ thể nhƣ: WB công bố các báo cáo và các ấn phẩm về KTXH Việt Nam bao gồm cả đầu tƣ, ĐTPT, ĐTPT từ nguồn vốn NSNN (Báo cáo phát triển Việt Nam, Việt Nam quản lý chi tiêu công để tăng trƣởng và giảm nghèo,…).
UNDP trong phần dữ liệu về Việt Nam và các ấn phẩm định kỳ có công bố về đầu tƣ và ĐTPT của Việt Nam. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) công bố các số liệu về ĐTPT và tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam làm căn cứ cho các nhà đầu tƣ tham khảo thêm về Việt Nam và công bố trên các ấn phẩm, báo cáo thƣờng niên của ADB. Một số nghiên cứu tại các địa phƣơng nhƣ: Đề tài quản lý chi ĐTPT kinh tế của miền Trung nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng chƣa đƣợc các nhà 6 nghiên cứu quan tâm nhiều. Luận án "Huy động và sử dụng VĐT phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp của Tiến sĩ Nguyễn Đẩu.
Ở Phú Thọ có luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý thu Ngân sách Nhà nƣớc tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ” của Tác giả Hoàng Thị Ánh Tuyết đã một phần đề cập đến hoạt động ĐTPT từ NSNN nhƣng mới chỉ dừng lại ở việc đề cập đến công tác huy động và phân bổ nguồn vốn NSNN, chƣa đi sâu vào phân tích và luận giải một cách triệt để công tác quản lý chi ĐTPT tại thị xã. Bối cảnh kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng và việc chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam đã có những thành tựu nhất định sau hơn 25 năm đổi mới trong điều kiện hội nhập có tính chất toàn cầu hoá. Do vậy, nghiên cứu về quản lý chi ĐTPT từ nguồn vốn NSNN phải có những tiếp cận mới theo hƣớng hội nhập quốc tế và chuyển đổi kinh tế phù hợp với thực tế đặt ra trong giai đoạn 2011-2020. Tổng quan về lý luận, các lý thuyết kinh tế, công trình nghiên ứu, các tài liệu khoa học đã đề cập nhiều đến đầu tƣ ĐTPT từ NSNN.
Tuy nhiên, lý luận về quản lý chi ĐTPT từ nguồn vốn NSNN trong nền kinh tế chuyển đổi và hội nhập quốc tế , đặc biệt là đối với Việt Nam nói chung và Phú Thọ nói riêng trong giai đoạn vừa qua còn ít đƣợc đề cập và chƣa có những nghiên cứu kịp thời bám sát với những thay đổi trong hoạt động ĐTPT của giai đoạn này, khi mà nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nguồn vốn đầu tƣ hạn hẹp, chi tiêu công phải cắt giảm để tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội, những bất ổn về chính trị và chủ quyền lợi ích quốc gia bị xâm phạm, Chỉnh phủ đang phải tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế biển đảo. Tổng quan về thực tiễn, một số nền kinh tế phát triển vận hành theo cơ chế thị trƣờng đã và đang ĐTPT từ nguồn vốn NSNN có hiệu quả. Ở Đông Á có Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,. Bên cạnh thành công đó cũng còn có không ít hạn chế cần phải tiếp tục khắc phục.
Các quốc gia thực hiện theo cơ chế kế 7 hoạch hóa hiện nay hầu nhƣ không còn tồn tại mà đã từng bƣớc thực hiện chuyển sang kinh tế thị trƣờng (KTTT) với nhiều mức độ khác nhau. Thực tiễn cho thấy, có nền kinh tế đã chuyển đổi tƣơng đối thành công, nhƣng cũng có nền kinh tế chuyển đổi còn lúng túng, chƣa hiệu quả. Trong phạm vi Việt Nam, cũng có thể thấy một số tỉnh đã thực hiện tƣơng đối thành công hơn hoạt động ĐTPT nhƣ Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dƣơng,.
nhờ vào quản lý, giám sát hiệu quả quá trình đầu tƣ, sử dụng nguồn vốn hợp lý, làm giảm đƣợc những thất thoát, lãng phí và tiêu cực. Những trƣờng hợp đó ít nhiều có thể làm hình mẫu cho các địa phƣơng khác học tập, rút kinh nghiệm. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, luận án xem xét vấn đề quản lý chi đầu tƣ phát triển từ nguồn NSNN ở góc độ chung của cả nền kinh tế cũng nhƣ ở cấp độ địa phƣơng ở các địa bàn khác nhau, song cho đến nay, vẫn chƣa có nghiên cứu nào tập trung khảo cứu vấn đề này gắn với điạ bàn đặc thù của thị xã Phú Thọ. Cơ sở lý luận chung về quản lý chi đầu tƣ phát triển từ ngân sách nhà nƣớc 1.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước 1. Ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nƣớc là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nƣớc và sự phát triển của các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ. Mặc dù với việc nhà nƣớc ra đời, các nhà nƣớc đều phải ban hành các luật thuế dƣới các hình thức khác nhau để lấy tiền chi tiêu, song cho tới chế độ phong kiến, việc thu - chi của nhà nƣớc thƣờng rất tuỳ tiện, chủ yếu là theo quyết định của nhà vua. Do đó mọi khoản thu - chi thƣờng không có kế hoạch trƣớc, không có niên độ, cũng không có sự tính toán phân loại và không có 8 luật lệ điều chỉnh.
Chỉ đến khi chủ nghĩa tƣ bản ra đời, giai cấp tƣ sản đấu tranh đòi nhà nƣớc phải hỗ trợ tài chính cho lĩnh vực kinh tế, đòi thiết lập trình tự lập kế hoạch chi tiêu và cơ chế kiểm tra, giám sát đối với việc chi tiêu của nhà nƣớc thì các nhân tố của NSNN mới đƣợc quy tụ đầy đủ. Từ đó NSNN mới đƣợc hình thành với các đặc trƣng của nó là tính kế hoạch dự toán tính cân đối thu - chi và tính niên độ. Ngày nay thuật ngữ NSNN đƣợc dùng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia. Trong thực tế, thuật ngữ thu – chi ngân sách đã đƣợc khái quát hóa, trong đó thu đƣợc hiểu là tất cả các nguồn tiền đƣợc huy động cho Nhà nƣớc còn chi bao gồm các khoản chi và các khoản trả khác của Nhà nƣớc, đồng thời hoạt động thu chi ngân sách đƣợc tiến hành rất đa dạng và phong phú trên hầu hết các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội.
Vì thế, có thể nói đằng sau hoạt động thu, chi của ngân sách là sự thể hiện các quan hệ kinh tế, xã hội giữa Nhà nƣớc với các chủ thể. Nhƣ vậy, từ những nội dung trên, ta có thể rút ra khái niệm chung về ngân sách nhƣ sau: “ Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định” (Dƣơng Đăng Chinh (2005)). Luật NSNN của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Điều 1 luật NSNN số 01/2002 QH11 ngày 16/12/2002). Hệ thống ngân sách nhà nước: Hệ thống ngân sách nhà nƣớc là tổng thể các cấp ngân sách, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi 9 cấp ngân sách.
Tùy theo mô hình tổ chức hành chính của mỗi nƣớc mà tồn tại các hình thức tổ chức hệ thống ngân sách nhà nƣớc khác nhau. Chẳng hạn ở các nƣớc có mô hình tổ chức hành chính liên bang (nhƣ: Đức, Mỹ, Malaysia, Canada…) hệ thống ngân sách nhà nƣớc đƣợc tổ chức thành ba cấp: ngân sách liên bang, ngân sách bang, ngân sách địa phƣơng; ở các nƣớc có thể chế nhà nƣớc thống nhất hay phi liên bang (nhƣ Pháp, Anh, Ý, Nhật…) tổ chức hệ thống ngân sách gồm hai cấp: ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng. Theo hiến pháp của nƣớc ta mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình tại địa phƣơng. Cấp ngân sách đƣợc hình thành trên cơ sở cấp chính quyền Nhà nƣớc.
Để có một cấp ngân sách thì phải có một cấp chính quyền với những nhiệm vụ toàn diện, đồng thời phải có khả năng nhất định về nguồn thu tại địa phƣơng do cấp chính quyền đó quản lý. Phù hợp với mô hình hệ thống thu tại địa phƣơng do cấp chính quyền Nhà nƣớc ta hiện nay, hệ thống ngân sách nhà nƣớc theo luật định bao gồm ngân sách Trung ƣơng và ngân sách các cấp chính quyền địa phƣơng. Ngân sách địa phƣơng bao gồm: - Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là ngân sách tỉnh); - Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện); - Ngân sách cấp xã, phƣờng, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã). Ở cấp địa phƣơng, phần ngân sách chi cho ĐTPT là một phần của ngân sách nhà nƣớc và đƣợc phân bổ theo từng cấp để đảm bảo cho hoạt đầu tƣ phát triển ở địa phƣơng theo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng đó.