CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về khu vực huyện Hoài Đức 1. Vị trí địa lý Huyện Hoài Đức là huyện nằm ở khu vực miền trung của tỉnh Hà Tây cũ. Phía Bắc giáp huyện Đan Phượng.
Phía Nam giáp huyện Quốc Oai và quận Hà Đông. Phía Tây giáp huyện Quốc Oai và phía Đông giáp Từ Liêm [3]. Huyện Hoài Đức nằm kề với thủ đô Hà Nội về phía Đông và quận Hà Đông ở phía Nam, có đường cao tốc Láng – Hoà Lạc và quốc lộ 32 đi qua. Sông Đáy chảy ở phía Tây của huyện [3].
Địa hình của huyện nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, gồm 3 vùng đồi núi, đồng bằng, vùng bãi. Trong vùng có một số núi sót như núi Voi, vua Bà, núi Thầy, Hoàng Xá (núi đá vôi). Trong huyện có sông Tích và sông Đáy chảy qua. Huyện có vùng là đồng bằng châu thổ, bằng phẳng, độ cao trung bình là 5 m [3].
Kinh tế - xã hội Hoài Đức có những lợi thế của vùng ven bãi sông Đáy và vùng ven đô; có nhiều ngành nghề truyền thống và các trục đường giao thông lớn chạy qua như QL32, Đại lộ Thăng Long… Hội tụ các điều kiện để phát triển tổng hợp các lĩnh vực kinh tế sản xuất. Ngoài nông nghiệp hàng hóa vùng bãi kết hợp du lịch sinh thái, Hoài Đức còn phát triển thương mại, dịch vụ, các khu đô thị, cơ cấu kinh tế bao gồm công nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp. Trong đó riêng về thủ công nghiệp, hiện nay, toàn huyện Hoài Đức có 51/53 làng có nghề; có 12/51 làng được công nhận làng nghề truyền thống. Điển hình là các làng nghề truyền thống nổi tiếng: Điêu khắc sơn tạc tượng Sơn Đồng, bánh kẹo, dệt kim La Phù; chế biến nông sản Minh Khai, Dương Liễu, Cát Quế, La Phù, Ngự Câu… Sản phẩm từ các làng nghề được tiêu thụ trên toàn quốc và xuất khẩu sang một số nước trên thế giới [2].
Thực tế cho thấy, huyện Hoài Đức vẫn còn rất nhiều tiềm năng để phát triển, cũng có nhiều khó khăn cần được các ban, ngành chức năng hỗ trợ, tháo gỡ. Phát huy những kết quả đã đạt được trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thời gian tới, huyện Hoài Đức sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ mạnh mẽ các giải pháp, biện pháp xây dựng huyện Hoài Đức thành quận theo chỉ đạo của Thành phố; triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Tạo điều kiện để các nhà đầu tư triển khai xây dựng hạ tầng các cụm, điểm công nghiệp theo quy hoạch. Thu hút đầu tư các trung tâm thương mại dịch vụ lớn tại một số vị trí theo quy hoạch; tăng cường công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, xây dựng, giao thông; tiếp tục duy trì, nâng 2 cao các tiêu chí nông thôn mới phù hợp với tiêu chí quận và phường; khuyến khích phát triển các vùng sản xuất chuyên canh, sản xuất nông nghiệp giá trị kinh tế cao, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật tăng năng suất, chất lượng sản phẩm; Thực hiện tốt các chính sách xã hội, chế độ chính sách đối với người có công, các đối tượng xã hội; các chương trình, dự án hướng tới giảm nghèo bền vững [2].2 Tổng quan về chất thải rắn 1.
Khái niệm chất thải rắn CTR (tiếng Anh là Soild Waste) là toàn bộ vật chất không phải dạng lỏng mà con người thải loại trong các hoạt động sống (sinh hoạt, sản xuất, các hoạt động liên quan đến phong tục tập quán của khu vực,.) trong đó quan trọng nhất là chất thải phát sinh từ các hoạt động sống hay CTRSI Rác là từ phổ thông dùng để chỉ các loại chất thải có hình dạng tương đối cố định và bị vứt bỏ từ các hoạt động của con người. Rác thải sinh hoạt hay CTR là một bộ phận của chất thải sinh hoạt và được phát sinh trong quá trình sống của con người. Nguồn phát sinh chất thải rắn CTR được phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, có thể dưới dạng này hay dạng khác, chất này hay chất khác, chúng khác nhau về số lượng kích thước, phân bố không gian. Việc phân loại tại nguồn phát sinh CTR đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý CTR.
CTR có thể phát sinh trong hoạt động cá nhân cũng như trong các hoạt động của khu dân cư, chợ, nhà hàng, khách sạn, văn phòng,.hoặc là từ các khu công nghiệp, nhà máy sản xuất. Một cách tổng quát CTR được phát sinh từ các nguồn sau: Chất thải phát sinh từ dân cư phần lớn là thực phẩm dư thừa hay hư hỏng như rau, quả,. bao bì hàng hóa (giấy, nilon, vải, cao su, thủy tinh,.), một số chất thải đặc biệt như đồ điện tử, vật dụng hư hỏng tử hộ gia đình (đồ gỗ gia dụng, bóng đèn, đồ nhựa, thủy tinh,.), chất tẩy rửa độc hại (xả phòng, chất thải trắng, nước rửa bát,.) Chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, trạm bảo hành, trạm dịch vụ,. khu văn phòng (trường học, viện nghiên cứu, khu văn hóa, văn phòng thí nghiệm, văn phòng chính quyền,.), khu công cộng (khu công viên, khu nghỉ mát,.), thải ra các loại thực phẩm (hàng hóa hư hỏng, thức ăn thừa từ nhà hàng khách sạn), bao bì (những bao bì đã sử dụng, hư hỏng) và các loại rác, xà bần, tro và chất thải độc hại.
Khu xây dựng: như các công trình thi công, các công trình tháo dỡ, cải tạo, 3 nâng cấp. thải ra xà bần, sắt thép vụn, vôi vữa, gạch vỡ, gỗ, ống dẫn nước,. các dịch vụ đô thị (gồm dịch vụ thu gom, xử lý chất thải và vệ sinh công cộng như rửa đường, vệ sinh cống rãnh,.) bao gồm quét đường, xác động vật,. Khu công nghiệp, nông nghiệp: CTR được thải ra từ các hoạt động sinh hoạt của công nhân, cán bộ, viên chức ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề,.
Ở khu vực nông thôn chất thải được thải ra chủ yếu là lá cây, cảnh cây, xác gia súc, thức ăn gia súc, chất thải đặc biệt như: hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón, thải ra cùng các bao bì đựng chúng. Thành phần của chất thải rắn Thành phần vật lý CTR ở các đô thị là phế thải trong sinh hoạt và sản xuất nên đó là một hỗn hợp phức tạp của nhiều chất khác nhau. Để xác định được thành phần của CTR một cách chính xác là một việc rất khó vì thành phần của rác thải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như phong tục tập quán, mức sống của người dân, mức độ tiện nghi của đời sống con người, thời tiết địa phương,. Thành phần CTR có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nó quyết định thiết bị xử lý, công nghệ cũng như hoạch định chính sách với hệ thống quản lý môi trường.
Theo Viện Kỹ Thuật Nhiệt Đới và Bảo Vệ Môi Trường thành phần CTR ở Việt Nam được xác định như sau: (Bảng 18 phụ lục). Độ ẩm: Độ ẩm (W) của một chất CTR là lượng nước chứa trong mội đơn vị trọng lượng chất thải ở trạng thái ban đầu của chất đó. Việc xác định độ ẩm của rác dựa vào tỉ lệ giữa khối lượng nước có trong CTR ban đầu là khối lượng CTR ban đầu. Với a là khối lượng CTR trước khi đem đi sấy, b là khối lượng CTR còn lại sau khi sấy đến khối lượng không đổi.
Ta có độ ẩm của CTR được tính bằng công thức: W = (a – b)*100%/a Độ ẩm của rác phụ thuộc vào thời tiết mưa hay nắng. Ở nước ta độ ẩm CTR đạt từ 50 - 70% (Bảng 19 phần phụ lục). -Tỷ trọng: 4 Tỷ trọng của rác được xác định bằng phương pháp cận để xác định tỉ lệ giữa trọng lượng của mẫu với thể tích của nó, đơn vị là kg/m hoặc lb/yd. Tỷ trọng được dùng để đánh giá khối lượng tổng và thể tích của CTR.
Tỷ trọng rác phụ thuộc vào các mùa trong năm, thành phần riêng biệt và độ ẩm không khí. Ở nước ta do khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa lên độ ẩm của CTR khá cao, thành phần rất phức tạp và chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy do đó tỷ trọng rác khá cao, khoảng 1100 - 1300 kg/m3. Cách xác định tỷ trọng của CTR theo công thức: Tỷ trọng = khối lượng cân CTR/ thể tích chứa khối CTR cân Đơn vị kg/m). Thành phần hóa học Thành phần hóa học của CTR đô thị bao gồm chất hữu cơ, chất tro, hàm lượng cacbon cố định, nhiệt lượng.
- Chất hữu cơ: Chất hữu cơ được xác định bằng cách lấy tác đã làm phân tích độ ẩm đem đốt ở 950°C. Phần bay hơi đi là chất hữu cơ hay còn gọi là tổn thất khi nung, thông thường chất hữu cơ dao động trong khoảng 40 - 60% trung bình là 53%. Chất hữu cơ được xác định bằng công thức sau: Chất hữu cơ (%)=((c - d)/c).100% Trong đó c là trọng lượng ban đầu, d là trọng lượng mẫu CTR sau khi đốt ở 950°C, tức là các chất trơ dư hay các chất cô cơ được tính: Chất vô cơ (%) = 100% - chất hữu cơ (%) Điểm nóng chảy của tro ở nhiệt độ 950°C thể tích của rác có thể giảm 95%. Các thành phần phần trăm của cacbon, hydro, nito, sunfua, và tro được dùng để xác định nhiệt lượng riêng của rác Hàm lượng cacbon cố định: là lượng cacbon còn lại sau khi đã loại bỏ các phần vô cơ không phải là cacbon trong tro khi nung ở 950°C.
Hàm lượng này thường chiếm khoảng 5 - 12% giá trị trung bình là 7%. Các chất vô cơ chiếm khoảng 15 - 30%, giá trị trung bình là 20%. Nhiệt lượng là giá trị nhiệt tạo thành khi đốt CTR. Giá trị nhiệt được xác định theo công thức Dulong: 5 Btu = 145C +610 (H2-1/8 O2) + 40S + 10N Trong đó C, H,, O,, S, N lần lượt là phần trăm của các nguyên tố cacbon, hydro, oxi, lưu huỳnh và nitơ trong CTR Thành phần sinh học Trừ các hợp chất nhựa dẻo, cao su và da, phần chất hữu cơ của hầu hết các CTR đô thị có thể phân loại thành các nhóm sau: Cellulose, một sự hóa đặc của sản phẩm của đường glucoza 6 - cacbon sự tạo thành nước hòa tan như là hồ tinh bột amino axit, các axit hữu cơ khác.
- Bản cellulose: Các sản phẩm ngưng tụ của đường 5 và 6 cacbon. - Chất béo, dầu và chất sáp là các este của rượu và các axit béo mạch dài. Chất gỗ (lignin): Một polymer chứa các vòng thơm với các nhóm methoxyl. Ligoncelluloza: Hợp chất do ligin và celluloza kết hợp với nhau.