Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lý và quản lý đào tạo Chương 2 Thực trạng đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo ở Trường THKT- DN Bắc Giang. Chương 3 Các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo của Trường THKT- DN Bắc Giang. 13 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO 1. Tổng quan hệ thống giáo dục nghề nghiệp: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường duy nhất để phát triển nền kinh tế - xã hội đối với bất cứ quốc gia nào, nhất là các nước chậm và đang phát triển.
Chỉ có công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới có thể rút ngắn được thời gian phát triển kinh tế - xã hội so với các nước “đi trước”. Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, con người - nguồn nhân lực - với tư cách là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội, chính là yếu tố quyết định quan trọng nhất, là động lực cơ bản nhất. Thực tế đã chứng minh, nguyên nhân dẫn đến sự thành công của các quốc gia và vùng lãnh thổ có nền công nghiệp phát triển ở Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo, Hồng Công, Đài Loan… không chỉ bắt nguồn từ khoa học - công nghệ mà chủ yếu là dựa vào nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có hàm lượng chất xám cao. Vì thế, có thể khẳng định, nguồn nhân lực đã trở thành yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng mang tính quyết định nhất đối với sự phồn thịnh của quốc gia, dân tộc.
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp có vai trò và vị trí quan trọng trong công tác phát triển nguồn nhân lực của các quốc gia. Một số nƣớc trên thế giới: Trong các thập kỷ qua, rất nhiều nước trên thế giới đã duy trì và phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân của mình. Loại hình giáo dục này nhằm đào tạo nguồn nhân lực có nhiều trình độ: Kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ, công nhân kỹ thuật nhằm đáp ứng kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc điểm của đội ngũ nhân lực này là trình độ nằm trong diện rộng, từ công nhân và nhân viên có trình độ sơ cấp, trung cấp đến trình độ tương đương với Cao đẳng.
Trình độ đào tạo thấp 14 z hay cao phụ thuộc vào yêu cầu của từng ngành nghề, từng trường quy định và ở mỗi nước khác nhau. Việc nghiên cứu mô hình tổ chức quản lý và quản lý giáo dục ở một số nước sẽ giúp ta so sánh và suy nghĩ, hiểu biết tốt hơn nền giáo dục nước mình, biết người thấu đáo để hiểu mình rõ ràng hơn, từ đó có các biện pháp cải tiến hoặc cải cách những vấn đề gay cấn trong nền giáo dục nước mình. Đồng thời vận dụng một cách sáng tạo vào cách thức quản lý giáo dục nghề nghiệp ở nước ta trong giai đoạn tới. Ở Pháp Giáo dục phổ thông của Pháp được phân luồng từ năm thứ ba của trung học cấp I (Tương đương với lớp 7 ở nước ta) Học sinh đã chia làm hai hướng: Phổ thông và công nghệ, và đến năm đầu trung học cấp II học sinh vào học trong 4 loại trường LEG ( lycee d’enseignement generale), LT ( lycee technique), LEP ( lycee d’enseignement proessionnel), ES ( e’cole spe’cialise’e).
Trường thứ nhất mang tính chất phổ thông, còn ba loại trường sau mang tính chất nghề nghiệp hoặc kết hợp giữa phổ thông và nghề nghiệp.Về các loại hình trường trung học chuyên nghiệp của Nguyễn Tiến Đạt - Trường LEP có thể coi tương đương trường dạy nghề của nước ta. Học sinh học hai năm đầu tốt nghiệp được nhận bằng nghề và có thể đi làm việc, nếu học tiếp một năm sẽ được nhận chứng chỉ năng lực nghề hoặc học tiếp hai năm sẽ lĩnh bằng tú tài nghề, có giá trị tương đương như các bằng tú tài khác và bằng kỹ thuật viên, hoặc có thể chuyển sang trường khác để tiếp tục học theo hướng công nghệ hoặc phổ thông. - Loại hình trường ES chiếm một số lượng rất nhỏ, tuyệt đại đa số nhân lực trình độ trung cấp như kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ là những người tốt nghiệp các trường LT có sự đào tạo kết hợp giữa phổ thông và nghề nghiệp tương tự như loại hình trường trung học nghề ở nước 15 z ta hoặc những người tốt nghiệp trường LEP với chương trình hoàn chỉnh; mô hình đào tạo ở đây là 9+(3-4). - Đào tạo nghề ở Pháp có hướng đi lên để nâng cao trình độ đến kỹ thuật viên hoặc chuyển trường để học lên, mở ra nhiều cơ hội học tập tiếp của người tốt nghiệp trường nghề.
- Loại hình trường đào tạo nghề ở Pháp có thể là đơn cấp như LT, IUT (institut universitaire de technologie), và ES, nhưng cũng có thể là đa cấp như LEP và LT có STS ( section des techniciens supeperieus). Ở Đức: Các loại hình trường của giáo dục nghề nghiệp ở Đức rất đa dạng, đặc biệt là các loại hình trường đào tạo nghề hoặc giáo dục phổ thông kết hợp với đào tạo nghề. Trường chuyên nghiệp ở Đức bao gồm nhiều ngành học. để vào học được trường chuyên nghiệp, học sinh phải kết thúc việc đào tạo ban đầu ở một trong các loại hình trường nghề, một bộ phận sau một thời gian làm việc có kinh nghiệm lâu năm, một bộ phận khác chứng tỏ có năng khiếu đặc biệt về chuyên môn, mô hình đào tạo có thể tóm tắt như sau: 4 năm trường cơ sở ( tiểu học) + 5 năm trường chính +3 năm đào tạo nghề +(1/2- 2) năm trường chuyên nghiệp.
Trong hệ thống giáo dục của Đức, vị trí người tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp xếp ngang hàng vị trí người tốt nghiệp đại học, vì ưu thế của họ là đã có một số năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp hoặc là người có năng khiếu đặc biệt sau khi tốt nghiệp các loại hình trường nghề. Về các loại hình trường trung học chuyên nghiệp của Nguyễn Tiến Đạt 1. Ở Ôxtrâylia: Ôxtrâylia không có một hệ thống trung học chuyên nghiệp riêng tách rời hệ thống dạy nghề như ở Việt Nam, mà gắn bó chung trong một hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Trình độ của hệ thống này trải dài từ trình độ sơ cấp qua trình độ trung cấp bậc thấp đến trình độ trung cấp bậc cao tương 16 z đương cao đẳng, cung cấp nguồn nhân lực ở mọi trình độ sơ cấp và trung cấp.
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Ôxtrâylia có các chứng chỉ bậc thấp nhất có thể so sánh tương đương chứng chỉ và bằng cao nhất của hệ thống giáo dục phổ thông, và đặc biệt hơn nữa là văn bằng cao nhất của hệ thống này lại có thể so sánh tương đương với các văn bằng thấp nhất của hệ thống giáo dục đại học, tạo điều kiện cho người học có nhiều cơ hội học tập vì có thể chuyển đổi hệ thống một cách dễ dàng. Tất cả các chứng chỉ và văn bằng của cả ba hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học đều được thống nhất với nhau trong một khung hệ thống bằng cấp chung của Ôxtrâylia. Về các loại hình trường trung học chuyên nghiệp của Nguyễn Tiến Đạt 1. Ở Thái Lan: Các loại hình đào tạo nghề đều là đa cấp, tiến hành dạy nghề để lấy chứng chỉ nghề, đến đào tạo kỹ thuật để lấy bằng kỹ thuật, thậm chí có loại hình trường đào tạo cả đại học.
Các con đường đào tạo trong các loại hình trường nối tiếp nhau, không bị đứt quãng. Căn cứ vào số năm đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp, có thể xếp đào tạo nghề vào bậc trung học; đào tạo lấy bằng kỹ thuật cũng như kỹ thuật viên và bằng nghề có trình độ cao hơn chứng chỉ nghề có thể xếp vào cấp cao đẳng. Đào tạo nghề và kỹ thuật ở trình độ cao sau nhiều năm đào tạo được coi là rất có giá trị và xếp ngang hàng tốt nghiệp đại học. Về các loại hình trường trung học chuyên nghiệp của Nguyễn Tiến Đạt 1.
Sự phát triển của hệ thống giáo dục nghề nghiệp: Trước nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu phát triển nhân lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngày 26/3/1998 Chính phủ đã có Quyết định số 67/1998/QĐ - TTg về việc chuyển giao 17 z nhiệm vụ quản lý nhà nước về đào tạo nghề từ Bộ Giáo dục và đào tạo sang Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tiếp theo đó Chính phủ có Nghị định số 33/1998/NĐ - CP ngày 23 tháng 5 năm 1998 tái thành lập lại Tổng cục dạy nghề. Quyết định quan trọng trên tạo ra bước phát triển mới của đào tạo nghề trước ngưỡng cửa thế kỷ 21. Quyết định 132/2000/QĐ - TTg ngày 24/11/2000 về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó có những quy định về đào tạo nghề cho nông dân. Đây chính là những thuận lợi rất cơ bản để phát triển hệ thống đào tạo nghề rộng khắp trên cả nước với nhiều loại hình đào tạo khác nhau phù hợp với nhu cầu phát triển chung của cả nước cũng như của từng vùng, từng địa phương và từng ngành kinh tế.
Cùng với việc tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo, trong đó có đào tạo nghề, Nhà nước chủ trương vay vốn của nước ngoài để phát triển đào tạo nghề như: Dự án Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp với vốn vay 121 triệu USD của Ngân hàng Châu Á và các nhà tài trợ khác; đang xây dựng các dự án vay vốn của Cộng hoà liên bang Đức, Hàn quốc để phát triển một số trường trọng điểm trong hệ thống. Các dự án hợp tác đa phương, song phương về đào tạo nghề với Cộng đồng Châu Âu (Eu), các nước trong khu vực (Asean), Nhật bản, Hàn quốc, Thuỵ sỹ, Cộng hoà liên bang Đức, Australia, Áo, Hà Lan, Lucxămburg … Trong cơ cấu lao động thì lao động qua đào tạo nghề là lực lượng đông đảo nhất, trực tiếp tham gia sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Khi nghiên cứu về hệ thống nghề nghiệp ở Việt Nam (năm 1997) các chuyên gia trong và ngoài nước đều khẳng định: Hệ thống giáo dục nghề nghiệp đã bị quên lãng trong một thời gian dài. Đã đến lúc chúng ta nhìn nhận thực tế vai trò của đào tạo nghề với quan niệm và cách nhìn khác.
Đào tạo nghề được xác định là một trong những công cụ mạnh nhất để cho các 18 z thành viên trong cộng đồng đối mặt với những thách thức mới và tự tìm thấy vai trò của mình trong xã hội.