lời mở đầu, một số từ viết tắt, danh mục bảng biểu, kết luận và các tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận và thực tiễn quản lý chất lƣợng đào tạo nghề. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng đào tạo nghề tại trƣờng Cao đẳng nghề Cong nghiệp trong trong giai đoạn 2009 - 2012. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao quản lý chất lƣợng đào tạo nghề tại trƣờng Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội. 9 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ 1.1 Một số khái niệm quản lý đào tạo nghề 1.1 Khái niệm nghề Nghề là một hiện tƣợng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động xã hội, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại.
Nó đƣợc nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu dƣới các góc độ khác nhau. Nghề xuất hiện trong xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu làm ăn sinh sống của con ngƣời và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội theo nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, nhiều khu vực lãnh thổ và cộng đồng. Cho đến nay thuật ngữ nghề đƣợc hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định. Chẳng hạn ở Pháp “Nghề là một loại lao động có thói quen và kỹ năng, kỹ xảo của một ngƣời để từ đó tìm đƣợc một phƣơng tiện sinh sống”, ở Đức “Nghề là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải đƣợc đào tạo ở một trình độ nào đó”…Ở Việt Nam, một định nghĩa đƣợc nhiều ngƣời sử dụng “Nghề là công việc chuyên, làm theo sự phân công lao động xã hội” (từ điển tiếng Việt.
Mặc dù khái niệm nghề đƣợc hiểu dƣới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trƣng nhất định nhƣ sau: Đó là công việc chuyên môn Là phƣơng tiện để sinh sống Là hoạt động lao động của con ngƣời Có thể làm thuê cho ngƣời khác hoặc làm cho bản thân Phù hợp với yêu cầu xã hội và nhu cầu của bản thân 1.2 Khái niệm đào tạo nghề (dạy nghề) Các khái niệm đào tạo nghề khá đa dạng. 10 Theo giáo trình Kinh tế lao động của trƣờng Đại học kinh tế quốc dân (ĐHKTQD) thì khái niệm đào tạo nghề đƣợc tác giả trình bày là : “ Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho ngƣời lao động, để họ có thể đảm nhận đƣợc một số công việc nhất định” [44,tr10]). Theo tài liệu của Bộ lao động thƣơng bình và Xã hội (LĐTB&XH) xuất bản năm 2002 thì khái niệm đào tạo nghề đƣợc hiểu: “Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho ngƣời lao động những kiến thức, kĩ năng và thái độ lao động cần thiết để ngƣời lao động sau khi hoàn thành khoá học hành đƣợc một nghề trong xã hội”. Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật dạy nghề số 76/2006/QH11.
Trong đó viết: “ Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc từ tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [45,tr26-27]. Nhƣ vậy, khái niệm này đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức kĩ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản. Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao ngƣời lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn “Vốn nhân lực” coi công nhân nhƣ cái máy sản xuất. Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỉ luật lao động - một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất với công nghệ và kĩ thuật tiên tiến hiện nay.
Đào tạo là một lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trƣờng nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục cho học sinh, sinh viên. Đây là công việc kết nối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chƣơng trình đào tạo, tổ chức thực hiện chƣơng trình và các vấn đề liên quan đến tuyển sinh, đào tạo, giám sát, đánh giá, kiểm tra, tổ chức thực tập, thi tốt nghiệp cùng các quy trình 11 đánh giá khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng ở lĩnh vực đào tạo chuyên nghiệp ở các cơ sở đào tạo nghề nghiệp. Tác giả William Mc Gehee cho rằng: “ Dạy nghề là những qui trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty”. Max Forter (1979) đƣa ra khái niệm Dạy nghề là đáp ứng bốn điều kiện: Thứ nhất: Gợi ra những giải pháp cho ngƣời học Thứ hai: Triển khai tri thức, kỹ năng và thái độ Thứ ba: Tạo ra sự thay đổi trong hành vi Thứ tƣ: Đạt đƣợc những mục tiêu chuyên biệt Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “Dạy nghề (đào tạo nghề) là cung cấp cho ngƣời học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc nghề nghiệp đƣợc giao”.
Qua đó, ta có thể thấy Dạy nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhƣng nó lại là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc. Dạy nghề giúp cho ngƣời lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để từ đó họ có thể xin làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp, hoặc có thể tự tạo ra công việc sản xuất cho bản thân. Hiện nay, Dạy nghề mang tính tích hợp giữa lí thuyết và thực hành. Sự tích hợp thể hiện ở chỗ nó đòi hỏi ngƣời giáo viên ngày nay phải chuyên sâu về kiến thức, vừa phải thành thục về kỹ năng tay nghề.
Đây là điểm khác biệt lớn trong Dạy nghề so với dạy văn hoá. Dạy nghề cung cấp cho học sinh những kiến thức và kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết của một nghề. Về kiến thức học sinh hiểu đƣợc cơ sở khoa học về vật liệu, dụng cụ, trang thiết bị, quy trình công nghệ, biện pháp tổ chức quản lí sản xuất để ngƣời công nhân kỹ thuật có thể thích ứng với sự thay đổi cơ cấu lao động trong sản xuất và đào tạo nghề mới. Học sinh đƣợc cung cấp kiến thức và kỹ năng nghề 12 nghiệp nhƣ kỹ năng sử dụng công cụ gia công vật liệu, các thao tác kỹ thuật, lập kế hoạch tính toán, thiết kế và khả năng vận dụng vào thực tiễn.
Đó là những cơ sở ban đầu để ngƣời học sinh ngƣời cán bộ kỹ thuật tƣơng lai hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát huy tính sáng tạo hình thành kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp. Nguyên lý và phƣơng châm của dạy nghề: Học đi đôi với hành; lấy thực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; Coi trọng giáo dục đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp của ngƣời học, đảm bảo tính giáo dục một cách toàn diện [17,tr12]. Dạy nghề hiện nay có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề.3 Khái niệm về quản lý đào tạo nghề Quản lý quá trình đào tạo nghề thực chất là quản lý những yếu tố theo một trình tự, qui trình vừa khoa học, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của Nhà trƣờng, đem lại hiệu quả trong công tác đào tạo đó là: Quản lý mục tiêu đào tạo nghề Quản lý nội dung đào tạo nghề Quản lý phƣơng pháp đào tạo nghề Quản lý hình thức tổ chức đào tạo nghề Quản lý hoạt động dạy nghề (chủ thể là thầy, cô) Quản lý hoạt động học nghề (chủ thể là học trò) Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, phƣơng tiện đào tạo nghề Quản lý môi trƣờng đào tạo nghề Quản lý tổ chức thực hiện Quy chế đào tạo nghề trong kiểm tra, đánh giá Quản lý tổ chức bộ máy đào tạo nghề Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ và có tác động qua lại lẫn nhau. Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lí đào tạo nghề cần tiến hành các bƣớc theo quy trình nhƣ quản lí giáo dục.
13 Do vậy, Nhà quản lí phải thƣờng xuyên theo dõi, đánh giá, xử lí các sai lệch để kịp thời điều chỉnh nhằm làm cho công tác giáo dục, đào tạo và nhà trƣờng phát triển liên tục. Nhiệm vụ của quản lí đào tạo nghề chính là ổn định duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nƣớc và đổi mới phát triển quá trình đào tạo đón đầu những tiến bộ khoa học kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội.2 Quan điểm về quản lý chất lƣợng đào tạo nghề Chất lƣợng đào tạo nghề của nhà trƣờng tập trung và chủ yếu nhất là chất lƣợng của sản phẩm đào tạo, chỉ đến chất lƣợng các công nhân kỹ thuật đƣợc đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục tiêu và chƣơng trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất mức độ chấp nhận của thị trƣờng lao động, của xã hội đối với kết quả đào tạo. Chất lƣợng sản phẩm đào tạo nghề là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lƣợng đào tạo nghề của nhà trƣờng. Chất lƣợng sản phẩm đào tạo nghề trƣớc hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và đƣợc thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của ngƣời tốt nghiệp.
Tuy nhiên quá trình thích ứng với thị trƣờng lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lƣợng đào tạo (CLĐT) mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của thị trƣờng nhƣ quan hệ cung - cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng lao động.1 Chất lượng đào tạo nghề Theo khái niệm truyền thống, một sản phẩm có chất lƣợng là sản phẩm đƣợc làm ra một cách hoàn thiện, bằng các vật liệu quý hiếm và đắt tiền. Nó nổi tiếng và tôn vinh thêm cho ngƣời sử hữu nó.