Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng đào tạo nghề lái xe ô tô trong các cơ sở đào tạo. Đặc điểm cơ sở đào tạo nghề lái xe ô tô ở địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng công tác quản lý chất lượng đào tạo nghề lái xe ô tô trong các cơ sở đào tạo nghề ở khu vực Bình Trị Thiên Chương 4.
Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý chất lượng đào tạo nghề lái xe ô tô trong các cơ sở đào tạo nghề ở khu vực Bình Trị Thiên Phần 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5 PHẦN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ LÁI XE Ô TÔ 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO LÁI XE Ô TÔ 1.
Tổng quan về quản lý chất lượng Chất lượng là một thuật ngữ xuất hiện ở đầu thế kỷ XX, có nguồn gốc từ quản lý sản xuất công nghiệp và sơ khai từ thời Trung cổ châu Âu, nơi mà thợ thủ công đã bắt đầu tổ chức thành nghiệp đoàn mà lúc đầu được gọi là phường hội. Chất lượng đã nhanh chóng trở thành một vấn đề quan trọng, có nhiều đối tượng quan tâm như Chính phủ, các nhà quản lý sản xuất và người tiêu dùng… Với sự ra đời của công nghiệp hóa và áp dụng các phương pháp tiếp cận khoa học mới để quản lý dựa trên phân chia lao động một cách nghiêm ngặt được đề xuất bởi Frederick Winslow Taylor nhằm giải quyết khối lượng sản xuất ngày càng lớn và sự phá vỡ các công việc thành các nhiệm vụ nhỏ hơn và công việc bằng tay lặp đi lặp lại được xử lý thay thế bằng máy, vai trò của người lao động tự kiểm tra chất lượng đã được giảm xuống. Tuy nhiên, trong giai đoạn này trách nhiệm về chất lượng vẫn gắn với người lao động và sau đó đòi hỏi cần thiết phải kiểm tra các sản phẩm để đảm bảo chúng phù hợp thông số kỹ thuật trước khi sản phẩm rời nhà máy. Điều này đã được biết đến là "kiểm soát chất lượng”.
Mốc thời gian của phát triển chất lượng Thời kỳ Nội dung Trước -1900 Chất lượng là yếu tố không thể thiếu trong ngành tiểu thủ công nghiệp 1900-1920 Kiểm soát chất lượng bởi người thợ cả 1920-1940 Kiểm tra dựa trên kiểm soát chất lượng 1940-1960 Thống kê quá trình kiểm soát 1960-1980 ISO, ĐBCL/kiểm soát chất lượng toàn diện (các bộ phận chất lượng) 1980-1990 Quản lý chất lượng tổng thể (TQM) 1990-2000 TQM, văn hóa chất lượng, cải tiến liên tục…. 2000- nay Quản lý tổ chức và chất lượng tổng thể Nguồn Edward Sallis, 2002 [77] 6 Bảng 2. Hệ thống cấp bậc quản lý chất lượng Quản lý chất lượng + Liên quan đến việc nhà cung cấp và khách hàng tổng thể + Mục đích cải tiến liên tục + Mối quan tâm sản phẩm và quy trình + Trách nhiệm với tất cả người lao động + Cung cấp thông qua làm việc theo nhóm Đảm bảo chất lượng + Sử dụng kiểm soát quá trình thống kê + Nhấn mạnh về phòng, chống + Công nhận ngoài + Được ủy quyền tham gia + Kiểm soát của hệ thống chất lượng + Nguyên nhân và phân tích ảnh hưởng Kiểm soát chất lượng + Quan tâm với thử nghiệm sản phẩm + Trách nhiệm với giám sát + Hạn chế chất lượng tiêu chuẩn + Một số tự kiểm tra + Chứng nhận hệ thống cơ sở chất lượng Kiểm tra + Bài viết đánh giá sản xuất + Làm lại, chỉnh sửa lại + Từ chối, loại bỏ sản phẩm hỏng + Kiểm soát của lực lượng lao động + Giới hạn cho các sản phẩm vật chất Nguồn: B. Dale, 2007 [61] Trong những ngày đầu của phong trào chất lượng tại Hoa Kỳ và Nhật Bản (nơi chất lượng được chính phủ và các nhà quản lý sản xuất quan tâm áp dụng phổ biến hơn), phương pháp tiếp cận thống kê của Walter A.
Shewhart (1931) đã thống trị lĩnh vực này. Đây là một loạt các kỹ thuật để sử dụng kết quả tính toán phát hiện ngăn chặn loại bỏ các nguyên nhân dẫn đến sản phẩm hỏng, do đó, cho phép các nhà quản lý sản xuất dự đoán và kiểm soát quá trình sản xuất nhanh hơn. Shewhart cho rằng bằng phương pháp thống kê và sử dụng các kỹ thuật thống kê, các dữ liệu có thể được phân tích nhằm tiến tới kiểm soát một quá trình ổn định về chất lượng. Ông đã đưa ra khái 7 niệm Kiểm soát chất lượng bằng thống kê (SQC).
Với cách làm này, Shewhart đặt nền tảng cho các biểu đồ kiểm soát, một công cụ hiện đại nhằm đảm bảo chất lượng ngày nay. Edwards Deming, một học trò của Shewhart sử dụng phương pháp kiểm soát quá trình thống kê để giúp các kỹ sư QLCL sản xuất đạn phục vụ trong chiến tranh thế giới thứ II. Edwards Deming có nhiều học giả, những người đã góp phần đáng kể vào những gì chúng ta biết ngày hôm nay trong lĩnh vực "chất lượng". Một số người trong số họ là Joseph Juran, Philip B.
Crosby, Kauru Ishikawa và Genichi Taguchi… Trên cơ sở nền móng của W. Edwards Deming, quản lý chất lượng đã có bước phát triển mới và được áp dụng rộng rãi không chỉ trong sản xuất công nghiệp mà còn được áp dụng trong các lĩnh vực khác. Chẳng hạn: + Năm 2000, bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã được sửa đổi để nhấn mạnh vào sự hài lòng của khách hàng. + Từ năm 1995, giải thưởng Chất lượng quốc gia Malcolm Baldrige được bổ sung thêm tiêu chí cho kết quả kinh doanh: người nộp đơn thành công.
+ Motorola đã phát triển phương pháp luận mới (Six Sigma) để cải thiện các quy trình kinh doanh của mình bằng cách giảm thiểu khuyết tật. Năm 1998, Motorola đã nhận được giải thưởng Baldrige cho phương pháp six sigma của mình. + Yoji Akao phát triển khuynh hướng chất lượng chức năng như là một quy trình tập trung vào ý muốn hay nhu cầu khách hàng và đưa chúng vào việc thiết kế hoặc tái thiết kế của một sản phẩm hay dịch vụ. + Phiên bản tiêu chuẩn ISO 9000 về quản lý chất lượng đã được phát triển cho ngành công nghiệp ô tô (QS-9000), hàng không vũ trụ (AS9000), viễn thông (TL 9000 và ISO/TS 16949) và quản lý môi trường (ISO 14000).
+ Chất lượng đã vượt ra ngoài lĩnh vực sản xuất và di chuyển vào các lĩnh vực như dịch vụ, y tế, giáo dục và điều hành chính phủ. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài về quản lý chất lượng đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo nghề lái xe ô tô Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chất lượng và quản lý chất lượng đào tạo: Năm 1975, Donal L.Kirkpatrick giới thiệu mô hình đánh giá chất lượng với bốn mức độ và được ông cập nhật mới nhất trong cuốn sánh Evaluating Training Programs 8 vào năm 1998. Trong đó, ông đưa ra mô hình bốn cấp độ đánh giá chất lượng đào tạo bao gồm: (1) Phản ứng, (2) Học tập, (3) Hành vi và (4) Kết quả. + Cấp độ 1 đo lường độ hài lòng của người học về chương trình đào tạo, các tiêu chí đo lường thường là nội dung, giảng viên, cách tổ chức hoạt động học tập.
+ Cấp độ 2 đo lường về lượng kiến thức, kỹ năng và thái độ học viên có thể thu nhận được thông qua chương trình đào tạo. + Cấp độ 3 đo lường những thay đổi về hành vi trong công việc sau khi học viên được đào tạo. Nói cách khác, cấp độ 3 cung cấp một số chỉ số cho thấy học viên đã vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ nào trong khóa học vào trong công việc thực tiễn và cải thiện chất lượng công việc của cá nhân. + Cấp độ 4 đo lường tác động của chương trình đào tạo đối với tổ chức của học viên [71].
Rất nhiều doanh nghiệp áp dụng mô hình này để đánh giá chương trình đào tạo trước, trong và sau khi đào tạo qua đó đánh giá được hiệu quả đào tạo đem lại cho doanh nghiệp. Thực tế, các trường học và cơ sở đào tạo thường thực hiện đánh giá chương trình đào tạo thông qua điều tra ý kiến phản hồi của người học về sự thỏa mãn chương trình đào tạo, giảng viên, cơ sở vật chất và kiến thức người học đạt được trong và sau khi học cũng như thành tích của người học đạt được trong và sau khi được đào tạo. Đây chính là mức độ 1 và mức độ 2 của mô hình Kirkpatrick, việc đánh giá khả năng áp dụng kiến thức học vào thực tế công việc tại các doanh nghiệp của người học đã được các trường học và cơ sở đào tạo tính đến và dự kiến thực hiện nhưng hiệu quả chưa thực sự cao do tốn kém về thời gian và chi phí. Theo một nghiên cứu khác liên quan đến đánh giá chất lượng trong lĩnh vực giáo dục, SEAMEO (1999) đưa ra mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model) dựa trên 5 yếu tố để đánh giá như sau [55]: 1.
Đầu vào: Người học, cán bộ trong trường, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, qui chế, tài chính. Quá trình đào tạo: Phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào tạo. Kết quả đào tạo: Mức độ hoàn thành khóa học, năng lực đạt được và khả năng thích ứng của người học; 4. Đầu ra: Người học tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu và các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu kinh tế và xã hội; 9 5.
Hiệu quả: Kết quả của giáo dục và ảnh hưởng của nó đối với xã hội. Mô hình này được áp dụng rất nhiều tại Hoa kỳ và được các đơn vị đào tạo, trường học và doanh nghiệp áp dụng thành các tiêu chuẩn và chất lượng cho đánh giá chất lượng đào tạo, lấy mô hình này làm chuẩn để đánh giá, tuy nhiên nó không làm nổi bật được giá trị tài chính và hiệu quả kinh tế trong mô hình này. Trọng tâm của phương thức IEO là tập trung vào sự tác động của môi trường lên kết quả đạt được. Mô hình đầu vào và đầu ra chỉ là trạng thái của một người ở hai thời điểm khác nhau và môi trường là những thực tiễn kinh nghiệm trong khoảng thời gian đó.