CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT KINH TẾ 1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu quản lý chất lượng trên thế giới Các nghiên cứu cho thấy vấn đề quản lý chất lượng được hình thành và phát triển lâu đời các nước trên thế giới. Trước hết phải kể đến công trình “Kiểm soát tính kinh tế của chất lượng sản phẩm trong công nghiệp” của Walter A. Shewartt (1931) ông đã đưa ra một định nghĩa chính xác và các phương pháp thống kê để đo lường, kiểm soát chất lượng, đánh giá sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Trong cuốn “Phương pháp thống kê từ quan điểm kiểm soát chất lượng” (1939) Shewartt đã đưa ra được một chu kỳ hành động gồm 04 giai đoạn: Kế hoạch (Plan), Thực hiện (Do), Kiểm tra (Check) và Hành động (Act). Công trình của Shewartt sau này được Deming, Dodge và Roming phát triển tiếp tục. Chu trình PDCA W. Edwards Deming đã cho nhiều ý tưởng khơi dậy ý thức từng thành viên tham gia lao động đó là kiểm soát chất lượng sản phẩm bằng thống kê.
Trong đó phải kể đến “14 điểm cho quản lý”, đó là: (1) Xây dựng mục đích bất biến: Hình thành và duy trì ổn định mục tiêu cải tiến sản phẩm và dịch vụ; 6 (2) Tiếp nhận triết lý mới; (3) Ngừng việc phụ thuộc vào việc thanh tra, kiểm tra; (4) Chấm dứt loại hợp đồng có “Giá thấp nhất”; (5) Không ngừng cải tiến hệ thống sản xuất và dịch vụ; (6) Tổ chức đào tạo có hệ thống; (7) Tổ chức huấn luyện lãnh đạo; (8) Loại bỏ nỗi lo ngại (khi muốn bày tỏ ý kiến, quan điểm); (9) Phá bỏ rào cản giữa các bộ phận và các nhân viên; (10) Loại bỏ khẩu hiệu, lời hô hào và mục tiêu cho người lao động; (11) Hạn chế hạn ngạch và quản trị theo mục tiêu; (12) Loại bỏ rào cản ảnh hưởng đến “lòng tự hào” của lực lượng lao động, hệ thống phân loại hàng năm; (13) Thực hiện chương trình đào tạo và tự rèn luyện cho mọi người; (14) Hành động để đạt đến sự chuyển biến [45]. Vào năm 1945, tác giả Armand Feigenbaum đã xây dựng phương pháp kiểm soát chất lượng toàn diện TQM (Total Quality Management) [47]. Một số tư tưởng mới của Feigenbaum: - Đặc điểm quan trọng nhất của một chương trình chất lượng tốt là nó có thể được chất lượng tận gốc; - Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống hiệu quả. Nó là sự kết hợp giữa phát triển chất lượng, duy trì chất lượng và nỗ lực cải tiến chất lượng của nhiều nhóm khác nhau trong cùng một tổ chức để thúc đẩy sản xuất và dịch vụ ở nhiều cấp độ nhằm thỏa mãn đầy đủ yêu cầu của khách hàng; - Chất lượng là sự tập hợp tất cả đặc tính của sản phẩm và dịch vụ từ tiếp cận thị trường, kỹ thuật, sản xuất và bảo hành mà thông qua đó sản phẩm và dịch vụ được sử dụng sẽ đáp ứng được mong đợi của khách hàng.
Và người thứ ba cũng có những đóng góp đáng kể vào hệ thống quản trị chất lượng toàn diện TQM là tác giả Joseph Juran, một chuyên gia hàng đầu về quản trị chất lượng QM (Quality Management) của Hoa Kỳ. Theo Juran (1951): “Một sản phẩm hoặc dịch vụ có thể đáp ứng các tiêu chuẩn nhưng cũng có thể không phù hợp với mục tiêu. Các tiêu chuẩn có thể thiếu chính xác, vì vậy các tiêu chuẩn nên là những gì mà khách hàng mong muốn”. Trong nghiên cứu “Sổ tay về chất lượng” Jaran đã coi “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” [50].
Theo ông có ba nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng là: “Lập kế hoạch, kiểm soát và cải tiến chất lượng” và 10 (mười) bước cải tiến chất lượng: (1) Xây dựng nhận thức về sự cần thiết và cơ hội để cải tiến; 7 (2) Thiết lập mục tiêu cho cải tiến; (3) Lập kế hoạch để đạt được mục tiêu; (4) Tổ chức đào tạo; (5) Thực hiện các dự án để giải quyết vấn đề; (6) Báo cáo tiến độ; (7) Ghi nhận các thành quả; (8) Thông báo các kết quả; (9) Lưu (hồ sơ thay đổi các thay đổi); (10) Duy trì động lực. Sơ đồ tam giác Juran Quan điểm chính về đặc tính chất lượng của Juran là: - Chất lượng chính là sự phù hợp khi sử dụng; - Nếu xét chất lượng theo nghĩa là không có sai sót, khuyết điểm gì thì mục tiêu lâu dài chính là sự hoàn hảo; - Không có tiêu chuẩn sẽ không có nền tảng logic để quyết định hay thực hiện. Khái niệm “Chất lượng là miễn phí” (Quality if free) là một công trình của Philip B. Crosby [44], ông đã đề xuất ra 14 bước cải tiến chất lượng như sau: (1) Làm rõ quyết tâm của người lãnh đạo quản lý đối với chất lượng; (2) Thiết lập một tổ chất lượng để điều khiển chương trình; (3) Giới thiệu các quy trình chất lượng; (4) Thực hiện việc đo lường các chi phí liên quan đến chất lượng; 8 (5) Lập nên một chương trình nâng cao nhận thức về chất lượng; (6) Giới thiệu các quy trình hành động để khắc phục; (7) Lên kế hoạch thực hiện việc không có khiếm khuyết; (8) Thực hiện đào tạo cho việc giám sát; (9) Công bố ngày bắt đầu thực hiện không khiếm khuyết để bắt đầu quá trình; (10) Thiết lập mục tiêu cho hành động; (11) Thiết lập/ khuyến khích các hệ thống thông tin giữa nhân viên và các cấp về sai sót – nguyên do – cách tháo gỡ; (12) Công nhận, khen thưởng những người đã tích cực tham gia; (13) Thành lập các hội đồng chất lượng để duy trì quá trình; (14) Lặp lại các bước trên.
Bốn điều tuyệt đối trong chất lượng là ý tưởng ông đề xuất trong công trình “Quality without tears” (1984): (1) Chất lượng được xác định bằng sự phù hợp với nhu cầu, không phải những "cái tốt" hay "cái đẹp". (2) Hệ thống chất lượng là sự phòng ngừa, không phải là kiểm tra. (3) Tiêu chuẩn thực hiện phải là "Không mắc lỗi", không phải là "Thế là gần đủ". (4) Đo lường chất lượng bằng chi phí không phù hợp.
Sơ đồ xương cá (Sơ đồ nguyên nhân kết quả) Qua những nghiên cứu trên có thể thấy quản lý chất lượng là một vấn đề thiết thực và đã được nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm để ứng dụng vào quá trình lao động, sản xuất phục vụ đời sống. Các công 9 trình nghiên cứu này được áp dụng trong giáo dục để nâng cao chất lượng cho quá trình đào tạo tại các trường học trên thế giới và Việt Nam. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Vấn đề phát triển nguồn nhân lực là một trong những mối quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong đó chất lượng đào tạo đại học đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ tiến trình hội nhập toàn diện của đất nước.
Ở Việt Nam, nhiều tác giả đã nghiên cứu các mô hình quản lý chất lượng trong GDĐH, đó là các nhà khoa học như: Nguyễn Đức Nghĩa, Nguyễn Đức Chính, Trần Khánh Đức, Nguyễn Quang Giao, Phạm Xuân Thanh, Mai Văn Cường, Nguyễn Tiến Công. Công trình “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học” (2002) do Nguyễn Đức Chính (chủ biên) đã phản ánh những kết quả của nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội về chất lượng và chất lượng GDĐH; các mô hình đảm bảo và kiểm định chất lượng GDĐH theo SEAMEO va TQM cùng bộ tiêu chí kiểm định chất lượng GDĐH Việt Nam [14]. Nguyễn Đức Nghĩa (2006) với đề án “Thí điểm đánh giá chất lượng giảng dạy bậc đại học tại ĐH quốc gia thành phố Hồ Chí Minh” đã nhận định, sự tồn tại của một cơ chế ĐBCL bên trong là yêu cầu cơ bản nhất của tất cả các trường ĐH thành viên AUN, xong do tư duy quản lý hiện nay vẫn nặng về quản lý hành chính theo quy định hoặc tiền lệ sẵn có, thiếu một cơ chế phản hồi cho toàn bộ hệ thống (từ mục tiêu, chương trình đến sự hài lòng của SV và sự thừa nhận giá trị từ các nhà tuyển dụng), đồng thời nền văn hóa bằng chứng vẫn chưa thực sự tồn tại trong các đơn vị. Tác giả nhận định, cơ chế ĐBCL bên trong của các trường chỉ có thể hoạt động tốt khi được sự hỗ trợ và giám sát bởi một cơ chế ĐBCL bên ngoài, được thể chế hóa qua các quy trình và các văn bản hướng dẫn [30].
Trần Khánh Đức (2010) với công trình “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ 21” đã chứng minh, chỉ khi hệ thống ĐBCL bên trong Nhà trường được xây dựng thì KĐCL các CSGD hay KĐCL các CTĐT mới được thực hiện một cách hiệu quả. Tác giả nhận định, KĐCL làm một khâu trong quá trình quản lý chất lượng và chính KĐCL là phương pháp, là công cụ để đánh giá hệ thống ĐBCL bên trong của tổ chức đó. Công trình đã mô tả cụ thể từ khâu đăng ký, tự đánh giá, đánh giá ngoài đến công nhận KĐCL, cũng như mục đích, ý nghĩa, nội dung và chuẩn mực để đánh giám một CSGD theo các mô hình ĐBCL khác nhau [22]. Nguyễn Quang Giao (2015) với nghiên cứu về “Quản lý chất lượng trong giáo dục đại học” đã khuyến nghị công tác ĐBCL trường Đại học cần thực hiện bốn chức 10 năng cơ bản sau: (1) Xác lập chuẩn, (2) Xây dựng các quy trình, (3) Xác định các tiêu chí đánh giá và (4) Vận hành, đo lường, đánh giá, thu thập và xử lý số liệu.
Ngoài ra, các trường ĐH cần quan tâm tiếp cận với khách hàng ngay từ đầu và nắm rõ các yêu cầu của họ với triết lý khách hàng là trên hết và quan trọng là mọi bộ phận trong trường đều phải có trách nhiệm trong việc ĐBCL, triển khai công tác ĐBCL là tiền đề cơ bản để các trường đại học hướng đến xây dựng hệ thống ĐBCL bên trong trường đại học, nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm đào tạo của Nhà trường [20]. Mai Văn Cường, Nguyễn Tiến Công (2012) với nghiên cứu “Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA tại Đại học Quốc gia Tp.