Luận văn: Quản lý chất lượng đào tạo ngành Luật Kinh tế tại Đại học Bình Dương

Quản lý chất lượng đào tạo ngành Luật Kinh tế tại Đại học Bình Dương: Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng.

Chuyên ngành

Quản lý Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

148
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT KINH TẾ

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Lịch sử nghiên cứu quản lý chất lượng trên thế giới

1.3. Các công trình nghiên cứu ở trong nước

1.4. Các khái niệm chính liên quan đến đề tài

1.4.1. Chất lượng đào tạo

1.4.2. Quản lý giáo dục

1.4.3. Quản lý đào tạo

1.4.4. Quản lý chất lượng

1.4.5. Quản lý chất lượng đào tạo

1.5. Các mô hình quản lý chất lượng giáo dục đại học

1.6. Quản lý chất lượng đào tạo ngành Luật kinh tế

1.6.1. Quản lý chất lượng tuyển sinh đầu vào

1.6.2. Quản lý chất lượng chương trình đào tạo

1.6.3. Quản lý chất lượng giảng dạy của giảng viên

1.6.4. Quản lý chất lượng hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên

1.6.5. Quản lý chất lượng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

1.6.6. Quản lý hỗ trợ người học

1.7. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG

2.1. Khái quát quá trình khảo sát

2.1.1. Mục đích khảo sát

2.1.2. Nội dung khảo sát

2.1.3. Đối tượng, phạm vi khảo sát

2.1.4. Tổ chức khảo sát

2.1.5. Xử lý số liệu

2.2. Khái quát về Trường Đại học Bình Dương

2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của Trường Đại học Bình Dương

2.2.2. Triết lý giáo dục

2.2.3. Quan điểm giáo dục

2.3. Khái quát về khoa Luật học thuộc Trường Đại học Bình Dương

2.4. Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo ngành Luật kinh tế tại Trường Đại học Bình Dương

2.4.1. Đánh giá của Cán bộ quản lý, Giảng viên, Sinh viên và Cơ quan, Doanh nghiệp về chất lượng đào tạo ngành Luật kinh tế tại Trường Đại học Bình Dương

2.4.2. Thực trạng tuyển sinh đầu vào của sinh viên ngành Luật kinh tế

2.4.3. Thực trạng chất lượng chương trình đào tạo

2.4.4. Thực trạng quản lý chất lượng giảng dạy của giảng viên

2.4.5. Thực trạng quản lý chất lượng kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên

2.4.6. Thực trạng quản lý chất lượng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học

2.4.7. Thực trạng quản lý hỗ trợ người học sau đào tạo

2.4.8. Mức độ đáp ứng công việc của sinh viên ngành Luật kinh tế tại Trường Đại học Bình Dương

2.5. Đánh giá chung về công tác quản lý chất lượng đào tạo ngành Luật kinh tế tại Trường Đại học Bình Dương

2.5.1. Thách thức

2.6. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG

3.1. Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

3.2. Các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo ngành Luật kinh tế tại Trường Đại học Bình Dương

3.2.1. Nâng cao nhận thức của Cán bộ quản lý, Giảng viên và sinh viên ngành Luật kinh tế về quản lý chất lượng đào tạo

3.2.2. Đổi mới công tác quảng bá tuyển sinh trong nhà trường

3.2.3. Phát triển chương trình đào tạo đáp ứng theo nhu cầu xã hội

3.2.4. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

3.2.5. Tăng cường quản lý chất lượng học tập của sinh viên

3.2.6. Đổi mới hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập

3.2.7. Đảm bảo cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

3.2.8. Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà trường và các cơ sử sử dụng lao động ngành Luật kinh tế

3.2.9. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.2.10. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

3.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Tóm tắt

I. Hiểu đúng về quản lý chất lượng đào tạo Luật Kinh tế ĐHBD

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đảm bảo chất lượng giáo dục đại học trở thành yếu tố sống còn quyết định uy tín và sự phát triển của một cơ sở giáo dục. Đối với ngành Luật Kinh tế tại Trường Đại học Bình Dương, việc xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng đào tạo bài bản không chỉ là yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà còn là cam kết với xã hội về nguồn nhân lực chất lượng cao. Quản lý chất lượng đào tạo được định nghĩa là quá trình tổ chức, thực hiện có hệ thống các biện pháp quản lý toàn bộ các yếu tố của quá trình đào tạo, từ đầu vào, quá trình đến đầu ra, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng theo mục tiêu đã định. Luận văn của Lê Ngọc Nữ (2021) nhấn mạnh: "QLCL đào tạo sẽ là nhân tố quyết định chất lượng đầu ra của sinh viên". Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc áp dụng các mô hình quản lý tiên tiến vào thực tiễn. Mục tiêu của quản lý chất lượng không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định, mà còn phải hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu của các bên liên quan, bao gồm sinh viên, phụ huynh, nhà tuyển dụng và toàn xã hội. Quá trình này đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ hệ thống, từ ban lãnh đạo, đội ngũ giảng viên, đến nhân viên hỗ trợ và chính người học. Một hệ thống quản lý hiệu quả sẽ giúp nhà trường xác định rõ điểm mạnh, điểm yếu, từ đó có những điều chỉnh kịp thời trong khung chương trình đào tạo Luật Kinh tế, phương pháp giảng dạy và hệ thống đánh giá. Việc này không chỉ nâng cao tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp mà còn góp phần xây dựng thương hiệu bền vững cho Trường Đại học Bình Dương trong lĩnh vực đào tạo pháp lý.

1.1. Tầm quan trọng của đảm bảo chất lượng giáo dục đại học

Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học là nền tảng để một trường đại học khẳng định vị thế và thực hiện trách nhiệm giải trình với xã hội. Đây là một quá trình liên tục, có hệ thống bao gồm các hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục, đánh giá ngoài và kiểm định chương trình đào tạo. Chất lượng không phải là một trạng thái tĩnh mà là một quá trình cải tiến không ngừng. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, các trường không thể tồn tại nếu không cam kết về chất lượng. Việc này giúp thu hút sinh viên giỏi, giữ chân giảng viên tài năng và nhận được sự tin tưởng từ các doanh nghiệp. Hơn nữa, chất lượng đào tạo còn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

1.2. Các mô hình quản lý chất lượng phổ biến TQM ISO AUN

Trên thế giới, có nhiều mô hình quản lý chất lượng được áp dụng trong giáo dục đại học. Hệ thống quản lý chất lượng ISO (ví dụ ISO 9001) tập trung vào việc chuẩn hóa các quy trình để đảm bảo tính nhất quán. Mô hình Quản lý chất lượng tổng thể (TQM - Total Quality Management) lại nhấn mạnh vào văn hóa chất lượng, sự tham gia của mọi thành viên và việc cải tiến liên tục để làm hài lòng "khách hàng" (sinh viên, nhà tuyển dụng). Đặc biệt, trong khu vực Đông Nam Á, bộ tiêu chuẩn AUN-QA (ASEAN University Network - Quality Assurance) đang ngày càng phổ biến. AUN-QA cung cấp một khung đánh giá toàn diện, từ chuẩn đầu ra, chương trình giảng dạy, đội ngũ giảng viên, đến dịch vụ hỗ trợ sinh viên và cơ sở vật chất phục vụ đào tạo. Việc lựa chọn và áp dụng mô hình phù hợp giúp các trường đại học, bao gồm cả Đại học Bình Dương, hệ thống hóa công tác quản lý và tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế.

II. Những thách thức khi quản lý chất lượng Luật Kinh tế ĐHBD

Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo ngành Luật Kinh tế tại Trường Đại học Bình Dương đối mặt với nhiều thách thức đáng kể, đòi hỏi những giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Dựa trên khảo sát được thực hiện trong nghiên cứu của Lê Ngọc Nữ (2021), một trong những vấn đề nổi cộm là sự chưa tương thích hoàn toàn giữa chương trình đào tạo và yêu cầu thực tiễn từ thị trường lao động. Mặc dù đã có nỗ lực cập nhật, khung chương trình đào tạo Luật Kinh tế vẫn còn nặng về lý thuyết, thiếu các học phần thực hành và kỹ năng mềm cần thiết. Điều này dẫn đến tình trạng sinh viên sau khi tốt nghiệp còn lúng túng khi xử lý các tình huống pháp lý thực tế. Một thách thức lớn khác đến từ năng lực đội ngũ giảng viên. Mặc dù có trình độ chuyên môn tốt, nhưng một bộ phận giảng viên chưa thường xuyên cập nhật kiến thức mới và áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực. Bên cạnh đó, số lượng giảng viên cơ hữu có kinh nghiệm thực tiễn tại các doanh nghiệp, văn phòng luật sư còn hạn chế. Vấn đề cơ sở vật chất phục vụ đào tạo cũng là một rào cản. Hệ thống thư viện, tài liệu tham khảo chuyên ngành, phòng thực hành (phiên tòa giả định) chưa được đầu tư tương xứng, ảnh hưởng đến chất lượng học tập và hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên. Cuối cùng, sự kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa thực sự bền chặt. Việc lấy phản hồi từ nhà tuyển dụng còn mang tính hình thức, chưa được tích hợp một cách có hệ thống để cải tiến chương trình, dẫn đến việc đào tạo chưa thực sự bám sát nhu cầu xã hội.

2.1. Bất cập trong khung chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra

Kết quả khảo sát từ giảng viên và sinh viên cho thấy khung chương trình đào tạo Luật Kinh tế hiện tại cần được rà soát và cải tiến. Cụ thể, một số môn học có nội dung trùng lặp, trong khi lại thiếu vắng các học phần cập nhật về luật thương mại quốc tế, sở hữu trí tuệ hay giải quyết tranh chấp trực tuyến. Chuẩn đầu ra ngành Luật Kinh tế đã được xây dựng nhưng chưa thực sự được dùng làm kim chỉ nam để thiết kế phương pháp giảng dạy và đánh giá. Sự liên kết giữa các học phần còn lỏng lẻo, chưa tạo thành một hệ thống kiến thức và kỹ năng logic, gây khó khăn cho sinh viên trong việc hệ thống hóa kiến thức khi ra trường.

2.2. Hạn chế về năng lực đội ngũ giảng viên và phương pháp dạy

Chất lượng đào tạo phụ thuộc trực tiếp vào năng lực đội ngũ giảng viên. Tại Đại học Bình Dương, dù giảng viên có tâm huyết, nhưng việc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực như thảo luận nhóm, giải quyết tình huống (case study), học tập dựa trên dự án vẫn chưa phổ biến. Phương pháp truyền thụ một chiều vẫn chiếm ưu thế, làm giảm tính chủ động và sáng tạo của sinh viên. Ngoài ra, cần có chính sách khuyến khích giảng viên tham gia các hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học và nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới.

2.3. Thiếu kết nối qua phản hồi từ nhà tuyển dụng thực tế

Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, việc thu thập phản hồi từ nhà tuyển dụng về chất lượng sinh viên tốt nghiệp ngành Luật Kinh tế chưa được thực hiện thường xuyên và bài bản. Các kênh đối thoại, hội thảo chung giữa khoa và doanh nghiệp còn ít. Điều này dẫn đến một độ trễ nhất định trong việc cập nhật chương trình đào tạo để phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động. Việc thiếu dữ liệu tin cậy về tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp và mức độ đáp ứng công việc cũng gây khó khăn cho công tác tự đánh giá chất lượng.

III. 8 Biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo Luật Kinh tế ĐHBD

Để giải quyết các thách thức hiện hữu, việc đề xuất và triển khai các biện pháp quản lý chất lượng đồng bộ là yêu cầu cấp thiết. Dựa trên phân tích thực trạng và cơ sở lý luận, nghiên cứu của Lê Ngọc Nữ (2021) đã đề xuất 8 biện pháp cốt lõi. Đầu tiên, cần Nâng cao nhận thức của Cán bộ quản lý, Giảng viên và sinh viên về tầm quan trọng của quản lý chất lượng. Thứ hai, Đổi mới công tác quảng bá tuyển sinh để thu hút đầu vào chất lượng hơn. Biện pháp thứ ba, và cũng là quan trọng nhất, là Phát triển chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội. Điều này đòi hỏi phải rà soát, cập nhật khung chương trình đào tạo Luật Kinh tế dựa trên chuẩn đầu raphản hồi từ nhà tuyển dụng. Thứ tư, Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn và khuyến khích nghiên cứu khoa học. Thứ năm, Tăng cường quản lý chất lượng học tập của sinh viên bằng cách thúc đẩy tinh thần tự học và các hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên. Thứ sáu, Đổi mới hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập, chuyển từ việc chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ sang đánh giá năng lực giải quyết vấn đề. Thứ bảy, Đảm bảo cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện đại. Cuối cùng, Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà trường và các cơ sở sử dụng lao động, xây dựng cơ chế hợp tác doanh nghiệp trong đào tạo một cách bền vững. Các biện pháp này cần được thực hiện một cách hệ thống và có lộ trình rõ ràng.

3.1. Phát triển chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực

Trọng tâm của việc cải tiến chất lượng nằm ở chương trình đào tạo. Cần chuyển đổi từ cách tiếp cận dựa trên nội dung sang tiếp cận dựa trên năng lực. Điều này có nghĩa là chuẩn đầu ra ngành Luật Kinh tế phải được xác định rõ ràng, cụ thể, có thể đo lường được, bao gồm cả kiến thức, kỹ năng và thái độ. Toàn bộ khung chương trình đào tạo Luật Kinh tế, từ mục tiêu, nội dung học phần đến phương pháp giảng dạy và hình thức đánh giá, đều phải được thiết kế để giúp sinh viên đạt được các chuẩn đầu ra đó. Quá trình này cần có sự tham gia của các chuyên gia, giảng viên và đại diện từ phía doanh nghiệp để đảm bảo tính thực tiễn.

3.2. Áp dụng quy trình đánh giá nội bộ và tự đánh giá chất lượng

Để cải tiến liên tục, nhà trường cần xây dựng và vận hành hiệu quả quy trình đánh giá nội bộ. Hoạt động này bao gồm việc thu thập minh chứng, phân tích dữ liệu về tất cả các khía cạnh của quá trình đào tạo như tỷ lệ chuyên cần, kết quả học tập, mức độ hài lòng của sinh viên, và phản hồi từ nhà tuyển dụng. Dựa trên kết quả này, hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục sẽ được tiến hành định kỳ. Đây là cơ sở để nhận diện các vấn đề cần cải thiện và là bước chuẩn bị quan trọng cho các đợt đánh giá ngoài và kiểm định chương trình đào tạo, hướng tới các tiêu chuẩn như của Bộ GD&ĐT hoặc AUN-QA.

IV. Giải pháp tăng cường hợp tác doanh nghiệp trong đào tạo

Sự gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn là chìa khóa thành công của chương trình đào tạo Luật Kinh tế. Do đó, tăng cường hợp tác doanh nghiệp trong đào tạo là một giải pháp chiến lược và mang tính đột phá. Mối quan hệ này không nên chỉ dừng lại ở việc ký kết các văn bản ghi nhớ mà cần đi vào thực chất. Nhà trường cần chủ động xây dựng một mạng lưới đối tác chiến lược bao gồm các công ty luật, phòng pháp chế doanh nghiệp, tòa án, và viện kiểm sát. Sự hợp tác này cần được thể hiện qua nhiều hoạt động cụ thể. Doanh nghiệp có thể tham gia vào quá trình xây dựng và góp ý cho khung chương trình đào tạo Luật Kinh tế để đảm bảo chương trình luôn cập nhật và phù hợp. Các chuyên gia, luật sư từ doanh nghiệp có thể được mời làm giảng viên thỉnh giảng, chia sẻ kinh nghiệm thực tế qua các buổi hội thảo chuyên đề. Quan trọng hơn, nhà trường cần phối hợp với doanh nghiệp để tạo ra nhiều cơ hội thực tập chất lượng cho sinh viên. Các chương trình thực tập này phải có mục tiêu, nội dung và người hướng dẫn rõ ràng, giúp sinh viên không chỉ quan sát mà còn được tham gia trực tiếp vào công việc. Ngược lại, hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên cũng có thể hướng đến việc giải quyết các vấn đề thực tiễn do doanh nghiệp đặt hàng. Cách tiếp cận này mang lại lợi ích cho cả ba bên: sinh viên có kinh nghiệm, doanh nghiệp có giải pháp và nguồn nhân lực tiềm năng, nhà trường nâng cao chất lượng đào tạo.

4.1. Xây dựng cơ chế thu thập phản hồi từ nhà tuyển dụng hiệu quả

Để việc hợp tác đi vào chiều sâu, cần thiết lập một cơ chế thu thập phản hồi từ nhà tuyển dụng một cách khoa học và định kỳ. Thay vì các cuộc khảo sát chung chung, nhà trường có thể thiết kế các phiếu khảo sát chi tiết, tập trung vào việc đánh giá mức độ đáp ứng của sinh viên tốt nghiệp đối với các tiêu chí công việc cụ thể (kiến thức chuyên môn, kỹ năng soạn thảo hợp đồng, kỹ năng đàm phán, ngoại ngữ...). Ngoài ra, việc tổ chức các buổi hội nghị bàn tròn hằng năm với sự tham gia của đại diện các doanh nghiệp lớn là kênh đối thoại trực tiếp và hiệu quả để lắng nghe những yêu cầu mới nhất từ thị trường lao động, từ đó nhanh chóng điều chỉnh chương trình đào tạo.

4.2. Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên ứng dụng

Hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên không chỉ là một tiêu chí đánh giá chất lượng mà còn là một phương pháp học tập hiệu quả. Khoa Luật học cần khuyến khích và tạo điều kiện để sinh viên thực hiện các đề tài có tính ứng dụng cao, giải quyết các vấn đề pháp lý mà doanh nghiệp đang gặp phải. Nhà trường có thể kết nối sinh viên với các chuyên gia tại doanh nghiệp để được hướng dẫn, hoặc tổ chức các cuộc thi ý tưởng, giải pháp pháp lý cho doanh nghiệp. Điều này không chỉ giúp sinh viên rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng nghiên cứu mà còn tạo ra các sản phẩm khoa học có giá trị, đồng thời tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp.

V. Hướng đến kiểm định chương trình và đáp ứng nhà tuyển dụng

Mục tiêu cuối cùng của mọi nỗ lực quản lý chất lượng đào tạo Luật Kinh tế ĐH Bình Dương là đạt được sự công nhận từ xã hội và đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thị trường lao động. Hai đích đến quan trọng thể hiện điều này là hoàn thành kiểm định chương trình đào tạo theo các tiêu chuẩn uy tín và nâng cao tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp. Việc đạt được chứng nhận kiểm định chất lượng, chẳng hạn như theo bộ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo hay cao hơn là AUN-QA, là một minh chứng khách quan và thuyết phục nhất về chất lượng của chương trình. Đây không chỉ là danh tiếng mà còn là sự khẳng định rằng toàn bộ hệ thống, từ chuẩn đầu ra, nội dung chương trình, năng lực đội ngũ giảng viên đến cơ sở vật chất, đều đạt những chuẩn mực nhất định. Quá trình chuẩn bị cho kiểm định cũng chính là cơ hội để nhà trường rà soát lại toàn bộ hoạt động, hệ thống hóa các quy trình và xây dựng văn hóa chất lượng. Song song đó, thước đo thực tiễn nhất của chất lượng đào tạo chính là sự thành công của sinh viên sau khi ra trường. Nhà trường cần đặt mục tiêu rõ ràng về việc cải thiện tỷ lệ sinh viên tìm được việc làm đúng chuyên ngành trong vòng 6-12 tháng sau tốt nghiệp. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa đào tạo và hỗ trợ việc làm, tăng cường các hoạt động tư vấn hướng nghiệp, ngày hội việc làm và kết nối trực tiếp với nhà tuyển dụng. Khi chất lượng được công nhận và sinh viên tốt nghiệp được săn đón, thương hiệu đào tạo Luật Kinh tế của Đại học Bình Dương sẽ thực sự được củng cố.

5.1. Lộ trình thực hiện kiểm định chương trình đào tạo theo chuẩn

Để thành công, hoạt động kiểm định chương trình đào tạo cần có một lộ trình bài bản. Bước đầu tiên là thành lập hội đồng tự đánh giá, tiến hành thu thập minh chứng và viết báo cáo tự đánh giá chất lượng một cách trung thực, toàn diện theo bộ tiêu chuẩn đã chọn. Giai đoạn này giúp khoa và nhà trường nhận diện rõ những điểm mạnh cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục. Sau khi hoàn thiện báo cáo và thực hiện các cải tiến cần thiết, nhà trường sẽ đăng ký đánh giá ngoài với một tổ chức kiểm định độc lập, uy tín. Toàn bộ quá trình này đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ từ ban lãnh đạo và sự tham gia tích cực của tất cả giảng viên, nhân viên và sinh viên.

5.2. Cải thiện tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp

Nâng cao tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp là một mục tiêu chiến lược. Ngoài việc đảm bảo chất lượng chuyên môn, nhà trường cần trang bị cho sinh viên những kỹ năng mềm thiết yếu như kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề và ngoại ngữ. Trung tâm Hỗ trợ sinh viên và Hợp tác doanh nghiệp cần hoạt động hiệu quả hơn, xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà tuyển dụng, tổ chức các buổi phỏng vấn thử, và cung cấp thông tin việc làm thường xuyên cho sinh viên. Việc theo dõi và khảo sát tình hình việc làm của cựu sinh viên cũng là nguồn dữ liệu quý giá để đánh giá và cải tiến chất lượng đào tạo.

27/09/2025
Quản lý chất lượng đào tạo ngành luật kinh tế tại trường đại học bình dương 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT KINH TẾ 1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu quản lý chất lượng trên thế giới Các nghiên cứu cho thấy vấn đề quản lý chất lượng được hình thành và phát triển lâu đời các nước trên thế giới. Trước hết phải kể đến công trình “Kiểm soát tính kinh tế của chất lượng sản phẩm trong công nghiệp” của Walter A. Shewartt (1931) ông đã đưa ra một định nghĩa chính xác và các phương pháp thống kê để đo lường, kiểm soát chất lượng, đánh giá sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Trong cuốn “Phương pháp thống kê từ quan điểm kiểm soát chất lượng” (1939) Shewartt đã đưa ra được một chu kỳ hành động gồm 04 giai đoạn: Kế hoạch (Plan), Thực hiện (Do), Kiểm tra (Check) và Hành động (Act). Công trình của Shewartt sau này được Deming, Dodge và Roming phát triển tiếp tục. Chu trình PDCA W. Edwards Deming đã cho nhiều ý tưởng khơi dậy ý thức từng thành viên tham gia lao động đó là kiểm soát chất lượng sản phẩm bằng thống kê.

Trong đó phải kể đến “14 điểm cho quản lý”, đó là: (1) Xây dựng mục đích bất biến: Hình thành và duy trì ổn định mục tiêu cải tiến sản phẩm và dịch vụ; 6 (2) Tiếp nhận triết lý mới; (3) Ngừng việc phụ thuộc vào việc thanh tra, kiểm tra; (4) Chấm dứt loại hợp đồng có “Giá thấp nhất”; (5) Không ngừng cải tiến hệ thống sản xuất và dịch vụ; (6) Tổ chức đào tạo có hệ thống; (7) Tổ chức huấn luyện lãnh đạo; (8) Loại bỏ nỗi lo ngại (khi muốn bày tỏ ý kiến, quan điểm); (9) Phá bỏ rào cản giữa các bộ phận và các nhân viên; (10) Loại bỏ khẩu hiệu, lời hô hào và mục tiêu cho người lao động; (11) Hạn chế hạn ngạch và quản trị theo mục tiêu; (12) Loại bỏ rào cản ảnh hưởng đến “lòng tự hào” của lực lượng lao động, hệ thống phân loại hàng năm; (13) Thực hiện chương trình đào tạo và tự rèn luyện cho mọi người; (14) Hành động để đạt đến sự chuyển biến [45]. Vào năm 1945, tác giả Armand Feigenbaum đã xây dựng phương pháp kiểm soát chất lượng toàn diện TQM (Total Quality Management) [47]. Một số tư tưởng mới của Feigenbaum: - Đặc điểm quan trọng nhất của một chương trình chất lượng tốt là nó có thể được chất lượng tận gốc; - Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống hiệu quả. Nó là sự kết hợp giữa phát triển chất lượng, duy trì chất lượng và nỗ lực cải tiến chất lượng của nhiều nhóm khác nhau trong cùng một tổ chức để thúc đẩy sản xuất và dịch vụ ở nhiều cấp độ nhằm thỏa mãn đầy đủ yêu cầu của khách hàng; - Chất lượng là sự tập hợp tất cả đặc tính của sản phẩm và dịch vụ từ tiếp cận thị trường, kỹ thuật, sản xuất và bảo hành mà thông qua đó sản phẩm và dịch vụ được sử dụng sẽ đáp ứng được mong đợi của khách hàng.

Và người thứ ba cũng có những đóng góp đáng kể vào hệ thống quản trị chất lượng toàn diện TQM là tác giả Joseph Juran, một chuyên gia hàng đầu về quản trị chất lượng QM (Quality Management) của Hoa Kỳ. Theo Juran (1951): “Một sản phẩm hoặc dịch vụ có thể đáp ứng các tiêu chuẩn nhưng cũng có thể không phù hợp với mục tiêu. Các tiêu chuẩn có thể thiếu chính xác, vì vậy các tiêu chuẩn nên là những gì mà khách hàng mong muốn”. Trong nghiên cứu “Sổ tay về chất lượng” Jaran đã coi “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” [50].

Theo ông có ba nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng là: “Lập kế hoạch, kiểm soát và cải tiến chất lượng” và 10 (mười) bước cải tiến chất lượng: (1) Xây dựng nhận thức về sự cần thiết và cơ hội để cải tiến; 7 (2) Thiết lập mục tiêu cho cải tiến; (3) Lập kế hoạch để đạt được mục tiêu; (4) Tổ chức đào tạo; (5) Thực hiện các dự án để giải quyết vấn đề; (6) Báo cáo tiến độ; (7) Ghi nhận các thành quả; (8) Thông báo các kết quả; (9) Lưu (hồ sơ thay đổi các thay đổi); (10) Duy trì động lực. Sơ đồ tam giác Juran Quan điểm chính về đặc tính chất lượng của Juran là: - Chất lượng chính là sự phù hợp khi sử dụng; - Nếu xét chất lượng theo nghĩa là không có sai sót, khuyết điểm gì thì mục tiêu lâu dài chính là sự hoàn hảo; - Không có tiêu chuẩn sẽ không có nền tảng logic để quyết định hay thực hiện. Khái niệm “Chất lượng là miễn phí” (Quality if free) là một công trình của Philip B. Crosby [44], ông đã đề xuất ra 14 bước cải tiến chất lượng như sau: (1) Làm rõ quyết tâm của người lãnh đạo quản lý đối với chất lượng; (2) Thiết lập một tổ chất lượng để điều khiển chương trình; (3) Giới thiệu các quy trình chất lượng; (4) Thực hiện việc đo lường các chi phí liên quan đến chất lượng; 8 (5) Lập nên một chương trình nâng cao nhận thức về chất lượng; (6) Giới thiệu các quy trình hành động để khắc phục; (7) Lên kế hoạch thực hiện việc không có khiếm khuyết; (8) Thực hiện đào tạo cho việc giám sát; (9) Công bố ngày bắt đầu thực hiện không khiếm khuyết để bắt đầu quá trình; (10) Thiết lập mục tiêu cho hành động; (11) Thiết lập/ khuyến khích các hệ thống thông tin giữa nhân viên và các cấp về sai sót – nguyên do – cách tháo gỡ; (12) Công nhận, khen thưởng những người đã tích cực tham gia; (13) Thành lập các hội đồng chất lượng để duy trì quá trình; (14) Lặp lại các bước trên.

Bốn điều tuyệt đối trong chất lượng là ý tưởng ông đề xuất trong công trình “Quality without tears” (1984): (1) Chất lượng được xác định bằng sự phù hợp với nhu cầu, không phải những "cái tốt" hay "cái đẹp". (2) Hệ thống chất lượng là sự phòng ngừa, không phải là kiểm tra. (3) Tiêu chuẩn thực hiện phải là "Không mắc lỗi", không phải là "Thế là gần đủ". (4) Đo lường chất lượng bằng chi phí không phù hợp.

Sơ đồ xương cá (Sơ đồ nguyên nhân kết quả) Qua những nghiên cứu trên có thể thấy quản lý chất lượng là một vấn đề thiết thực và đã được nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm để ứng dụng vào quá trình lao động, sản xuất phục vụ đời sống. Các công 9 trình nghiên cứu này được áp dụng trong giáo dục để nâng cao chất lượng cho quá trình đào tạo tại các trường học trên thế giới và Việt Nam. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Vấn đề phát triển nguồn nhân lực là một trong những mối quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong đó chất lượng đào tạo đại học đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ tiến trình hội nhập toàn diện của đất nước.

Ở Việt Nam, nhiều tác giả đã nghiên cứu các mô hình quản lý chất lượng trong GDĐH, đó là các nhà khoa học như: Nguyễn Đức Nghĩa, Nguyễn Đức Chính, Trần Khánh Đức, Nguyễn Quang Giao, Phạm Xuân Thanh, Mai Văn Cường, Nguyễn Tiến Công. Công trình “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học” (2002) do Nguyễn Đức Chính (chủ biên) đã phản ánh những kết quả của nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội về chất lượng và chất lượng GDĐH; các mô hình đảm bảo và kiểm định chất lượng GDĐH theo SEAMEO va TQM cùng bộ tiêu chí kiểm định chất lượng GDĐH Việt Nam [14]. Nguyễn Đức Nghĩa (2006) với đề án “Thí điểm đánh giá chất lượng giảng dạy bậc đại học tại ĐH quốc gia thành phố Hồ Chí Minh” đã nhận định, sự tồn tại của một cơ chế ĐBCL bên trong là yêu cầu cơ bản nhất của tất cả các trường ĐH thành viên AUN, xong do tư duy quản lý hiện nay vẫn nặng về quản lý hành chính theo quy định hoặc tiền lệ sẵn có, thiếu một cơ chế phản hồi cho toàn bộ hệ thống (từ mục tiêu, chương trình đến sự hài lòng của SV và sự thừa nhận giá trị từ các nhà tuyển dụng), đồng thời nền văn hóa bằng chứng vẫn chưa thực sự tồn tại trong các đơn vị. Tác giả nhận định, cơ chế ĐBCL bên trong của các trường chỉ có thể hoạt động tốt khi được sự hỗ trợ và giám sát bởi một cơ chế ĐBCL bên ngoài, được thể chế hóa qua các quy trình và các văn bản hướng dẫn [30].

Trần Khánh Đức (2010) với công trình “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ 21” đã chứng minh, chỉ khi hệ thống ĐBCL bên trong Nhà trường được xây dựng thì KĐCL các CSGD hay KĐCL các CTĐT mới được thực hiện một cách hiệu quả. Tác giả nhận định, KĐCL làm một khâu trong quá trình quản lý chất lượng và chính KĐCL là phương pháp, là công cụ để đánh giá hệ thống ĐBCL bên trong của tổ chức đó. Công trình đã mô tả cụ thể từ khâu đăng ký, tự đánh giá, đánh giá ngoài đến công nhận KĐCL, cũng như mục đích, ý nghĩa, nội dung và chuẩn mực để đánh giám một CSGD theo các mô hình ĐBCL khác nhau [22]. Nguyễn Quang Giao (2015) với nghiên cứu về “Quản lý chất lượng trong giáo dục đại học” đã khuyến nghị công tác ĐBCL trường Đại học cần thực hiện bốn chức 10 năng cơ bản sau: (1) Xác lập chuẩn, (2) Xây dựng các quy trình, (3) Xác định các tiêu chí đánh giá và (4) Vận hành, đo lường, đánh giá, thu thập và xử lý số liệu.

Ngoài ra, các trường ĐH cần quan tâm tiếp cận với khách hàng ngay từ đầu và nắm rõ các yêu cầu của họ với triết lý khách hàng là trên hết và quan trọng là mọi bộ phận trong trường đều phải có trách nhiệm trong việc ĐBCL, triển khai công tác ĐBCL là tiền đề cơ bản để các trường đại học hướng đến xây dựng hệ thống ĐBCL bên trong trường đại học, nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm đào tạo của Nhà trường [20]. Mai Văn Cường, Nguyễn Tiến Công (2012) với nghiên cứu “Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA tại Đại học Quốc gia Tp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ