phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý chất lƣợng CTĐT đại học theo Bộ tiêu chuẩn AUN-QA.Thực trạng quản lý chất lƣợng CTĐT đại học theo Bộ tiêu chuẩn AUN-QA tại trƣờng ĐH TDM Chƣơng 3. Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lƣợng CTĐT đại học theo Bộ tiêu chuẩn AUN-QA tại trƣờng ĐH TDM. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO TIÊU CHUẨN CỦA AUN 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu trên thế giới Chất lƣợng luôn là mục tiêu tìm tòi và hƣớng tới của con ngƣời, là động lực thúc đẩy nỗ lực không ngừng của mỗi ngƣời trong suốt quá trình phát triển của xã hội. Chất lƣợng là đối tƣợng nghiên cứu bắt nguồn từ ngành công nghiệp ở Mỹ đầu thế kỉ XX sau đó phát triển mạnh ở Nhật Bản, Úc…v. với sự đóng góp của các nhà quản lý nổi tiếng nhƣ William Edwards Deming, Joseph Mose Juran, Philip Bayard Corsby, Kaoru Ishikawa.
Sự phát triển của ngành công nghiệp và sự áp dụng các phƣơng pháp tiếp cận khoa học về quản lý dựa trên phân chia lao động một cách nghiêm ngặt nhằm giải quyết khối lƣợng sản xuất ngày càng lớn, năng suất tăng cao đồng thời đòi hỏi phải đảm bảo đƣợc chất lƣợng sản phẩm. Do vậy các lý thuyết về quản lý chất lƣợng đƣợc quan tâm (Đại học Quốc gia HCM, 2018) Vấn đề quản lý chất lƣợng đã đƣợc nghiên cứu và vận dụng trong thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới với những cấp độ khác nhau.Taylor đã phân chia quá trình sản xuất thành 2 công đoạn: hoạch định và thực thi. Nhà quản trị và các kỹ sƣ thực hiện chức năng hoạch định kế hoạch còn công nhân thực hiện chức năng thực thi kế hoạch đó. Bộ phận giám sát chất lƣợng đƣợc thành lập nhằm thực hiện chức năng “kiểm soát chất lƣợng”.
Nội dung của quản lý chất lƣợng thời kỳ này chỉ là phân loại sản phẩm tốt, xấu, loại bỏ sản phẩm sai hỏng. Điều này có nghĩa là chất lƣợng là trách nhiệm của bộ phận kiểm soát chất lƣợng và không liên quan đến bộ khác, kể cả các nhà quản trị (ĐHQG TPHCM, 2018; Nguyễn Đức Chính, 2002). Tiếp đến những năm 30 của thế kỷ 20, các nhà quản lý chất lƣợng nhƣ W. Deming, Joseph và Walter Shewhart đã nghiên cứu và đƣa ra mô hình „kiểm soát quá trình‟.
Mô hình này đƣợc xây dựng vì các nhà quản lý chất lƣợng nhận thấy với sự phát triển nhanh chóng của sản xuất công nghiệp, vấn đề kiểm soát chất lƣợng trở nên lãng phí về nguồn lực và thời gian vì phải kiểm tra từng 10 sản phẩm, do vậy họ đã nghĩ đến biện pháp „phòng ngừa‟ thay cho „phát hiện‟. Các nhà quản lý chất lƣợng xem chất lƣợng đƣợc tạo nên trong cả một quá trình, đƣợc hình thành ở các khâu, công đoạn làm ra sản phẩm. Cho nên các khâu cần phải đƣợc kiểm tra để thực hiện chất lƣợng tốt. Kiểm soát quá trình đòi hỏi phải kiểm soát các yếu tố cơ bản gồm: con ngƣời, máy móc, nguyên vật liệu và phƣơng pháp cùng với thông tin ĐHQG TPHCM, 2018; Nguyễn Đức Chính, 2002).
Cho đến những năm 60 của thế kỷ 20, W. Deming, một nhà thống kê học của Mĩ đã giúp cho các công ty Nhật Bản cải tiến chất lƣợng sản phẩm thông qua vận dụng quá trình quản lý chất lƣợng phù hợp. Triết lí cơ bản của Deming là chất lƣợng và năng suất tăng tỷ lệ nghịch với độ biến động, vì mọi vật đều biến động, nên cần sử dụng các phƣơng pháp thống kê điều khiển chất lƣợng. Ông đƣa ra triết lí nổi tiếng với 14 điểm nổi bật trong cuốn sách “Out of crisis” đƣợc tóm lƣợc lại với 3 phạm trù nhƣ sau: sự nhất quán của mục tiêu, sự cải tiến không ngừng và sự hợp tác giữa các bộ phận.
Sau này lý thuyết của ông đƣợc phát triển và khái quát thành vòng tròn đặt tên Deming với chu trình PDCA -viết tắt của cụm từ Plan: Lập kế hoạch, Do: Triển khai, Check: Kiểm tra, Act: Cải tiến (ĐHQG TPHCM, 2018). Demings, Juran và Ishikawa cũng đã nghiên cứu và đƣa ra luận điểm „hƣớng tới khách hàng‟, xem đây là là nhiệm vụ quan trọng của nhà sản xuất trong việc tạo niềm tin ở khách hàng. Khách hàng sẽ tin tƣởng khi họ có đủ bằng chứng nói lên chất lƣợng của sản phẩm. Chất lƣợng lúc này đƣợc đảm bảo bởi hệ thống ĐBCL, hệ thống này sẽ chỉ ra chính xác cách làm và làm theo những chuẩn nào.
ĐBCL quan tâm phòng chống những sai phạm xảy ra ngay từ bƣớc đầu tiên. Chất lƣợng của sản phẩm đƣợc thiết kế ngay trong quá trình xản xuất từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đảm bảo không có sai phạm trong các khâu. Các tiêu chuẩn chất lƣợng đƣợc duy trì bằng cách tuân thủ quy trình vạch ra trong hệ thống ĐBCL với chính sách và mục tiêu chất lƣợng đều đƣợc mọi thành viên trong hệ thống thấu hiểu. Hệ thống không 11 ngừng cải tiến nhằm thích ứng với sự thay đổi của môi trƣờng bên trong và bên ngoài (Nguyễn Đức Chính, 2002).
Demings, Crosby and Ohno đã tổng kết kinh nghiệm và tiếp tục phát triển QLCL thành QLCL tổng thể (Total Quality Management). Lý thuyết QLCL tổng thể phát triển mạnh vào những năm 80 của thế kỷ 20 và áp dụng rộng rãi trong sản xuất công nghiệp ở nhiều nƣớc trên thế giới và cả lĩnh vực giáo dục. QLCL tổng thể là QLCL ở mọi yếu tố, mọi hoạt động, mọi quá trình, tất cả mọi ngƣời cùng tham gia xây dựng chất lƣợng của tổ chức và mỗi ngƣời chịu trách nhiệm về một khâu mà mình đảm nhận. Việc quản lý chất lƣợng không chỉ tập trung vào sản phẩm mà còn tập trung vào quá trình.
Đồng thời quá trình này luôn đƣợc giám sát và cải tiến liên tục nhằm đạt đƣợc chất lƣợng sản phẩm ổn định và quá trình quản lý đạt hiệu quả cao hơn (Nguyễn Đức Chính, 2002). Nhƣ vậy, qua nhiều nghiên cứu của các nhà QLCL cho thấy có 03 cấp độ quản lý chất lƣợng, trong đó kiểm soát chất lƣợng toàn diện hay đảm bảo chất lƣợng tổng thể đƣợc coi là mức độ phát triển cao nhất, đầy đủ và chặt chẽ nhất nhằm không ngừng thúc đẩy và cải tiến liên tục chất lƣợng hoạt động của tổ chức. Đây cũng chính là mục tiêu của bất kỳ một tổ chức, cơ sở giáo dục đào tạo mong muốn hƣớng tới và đạt đƣợc những chuẩn mực chất lƣợng nhất định mà sứ mệnh và chiến lƣợc phát triển của mình đặt ra. Trong lĩnh vực giáo dục đại học, từ những năm 1980 đến nay đã ra đời nhiều lý thuyết và mô hình quản lý chất lƣợng và ĐBCL đại học ở Châu Âu và Mỹ, nhƣ là tiêu chuẩn hóa quốc tế dành cho các cơ quan, tổ chức (ISO), QLCL tổng thể TQM, Tổ chức quản lý chất lƣợng Châu Âu (EFQM) xuất phát từ kinh doanh và doanh nghiệp đã đƣợc đƣa vào trong giáo dục, mô hình ĐBCL các trƣờng đại học khu vực Đông Nam Á (AUN-QA).
Trong nhiều nƣớc Châu Âu trƣớc đây, ĐBCL đƣợc sử dụng nhƣ một hệ thống đánh giá bên ngoài mà không cần phải có một sự công nhận chính thức các kết quả đạt đƣợc. Tuy nhiên, theo xu hƣớng mới đƣợc hình thành là việc xúc tiến xây dựng hệ thống kiểm định trong mỗi quốc gia Châu Âu (Đỗ Trọng Tuấn, 2015). Việc quản lý và đảm bảo chất lƣợng ở các nƣớc Đông Nam Á cũng rất 12 khác nhau. Ở Thái Lan, đảm bảo chất lƣợng - đƣợc giới thiệu qua hệ thống kiểm tra chất lƣợng nhà trƣờng, kiểm toán chất lƣợng bên ngoài và kiểm định công nhận (BHES, 2002) - nhằm vào các mục tiêu giáo dục đại học, sự thực hiện, các kết quả học tập hay các chỉ số và sự phát triển.
Ở Indonesia, đảm bảo chất lƣợng đƣợc xác định thông qua kiểm tra nội bộ các chƣơng trình học, các quy định của chính phủ, cơ chế thị trƣờng và kiểm định công nhận (Tadjudin, 2001). Một số nƣớc Đông Nam Á cũng đã thành lập cơ quan kiểm định quốc gia nhƣ: BDAC (Brunei), BAN-PT (Indonesia), LAN (Malaysia), FAAP (Philipines), ONESQA (Thái Lan). Trọng tâm kiểm định của mỗi quốc gia có sự khác nhau. Những nƣớc nhƣ Indonesia thực hiện kiểm định ở cấp chƣơng trình trong khi đó Malaysia, Brunei và Thái Lan thực hiện kiểm định ở cấp trƣờng.
Theo TS Len (2005), thì trong khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng, hầu hết các cơ quan đảm bảo chất lƣợng quốc gia đều do Nhà nƣớc thành lập, đƣợc Nhà nƣớc cấp kinh phí và chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ kiểm định (Phạm Xuân Thanh, 2005). Hiệp hội Mạng lƣới các trƣờng Đại học Đông Nam Á-ASEAN University Network (AUN) đƣợc thành lập năm 2005 và luôn xem chất lƣợng giáo dục là mục tiêu quan trọng hàng đầu, nỗ lực hết mình trong việc xây dựng mối liên kết về giáo dục giữa các nƣớc trong khu vực nhằm khẳng định với quốc tế về sự hội nhập của giáo dục đại học khu vực Đông Nam Á. Trong quá trình hoạt động của tổ chức nhằm thúc đẩy hoạt động chất lƣợng ngày càng đƣợc quan tâm và nâng cao hơn nữa, AUN-QA cũng xuất bản các Bộ tiêu chí đánh giá chất lƣợng cấp trƣờng, cấp chƣơng trình, sổ tay chất lƣợng, tài liệu hƣớng dẫn nhằm hƣớng dẫn rõ ràng và cụ thể những tiêu chuẩn về đảm bảo chất lƣợng nhƣ: Manual for the Internal Quality Assurance for Higher Education Institutions, Asean University Network - Quality Assurance Manual for the Implementation of the Guidelines; Guidelines for AUN Quality Assessment and Assessors; Guide to AUN Actual Quality Assessment at Programme Level 2.0 (2011), Guide to AUN Actual Quality Assessment at Programme Level 3. Nhìn chung, cách quản lý CTĐT theo các chuẩn kiểm định ở các nƣớc đều dựa trên quá trình ĐBCL (Quality Assurance) và cao hơn là quản lý chất lƣợng 13 tổng thể (TQM).
ĐBCL giáo dục đại học nói chung và đảm bảo chất lƣợng chƣơng trình đào tạo nói chung đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ nhằm duy trì các chuẩn mực và không ngừng cải thiện chất lƣợng. Nó đƣợc sử dụng tùy theo cấp độ và cách thức thực hiện phụ thuộc vào văn hóa và tình hình phát triển kinh tế xã hội của từng khu vực và mỗi nƣớc.