Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC TÍCH HỢP CHO GIÁO VIÊN MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về năng lực dạy học tích hợp và bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp “Theo thống kê của UNESCO, từ năm 1960 đến năm 1974 đã có 208 chương trình môn khoa học thể hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau từ liên môn, kết hợp đến tích hợp hoàn toàn theo những chủ đề (trong số 392 chương trình được điều tra)” [30]. DHTH được coi là một phương thức nhằm giúp phát triển NL người học, đáp ứng yêu cầu của GD ở thế kỷ XXI.
Ở nước ta, các nhà nghiên cứu cũng đã bắt đầu quan tâm đến DHTH từ những năm 1990 và được các nhà trường bước đầu tổ chức thực hiện, áp dụng vào DH. Tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh (chủ nhiệm), (2012) đã nghiên cứu tương đối toàn diện những vấn đề chung về DHTH, NLDHTH, hình thành Năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên THPT. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đã tìm hiểu cả những vấn đề thực tiễn về hoạt động DHTH ở một số trường THPT và đề xuất các biện pháp vận dụng DHTH vào HĐDH một số môn học tự nhiên và xã hội ở trường THPT. Có thể thấy, trong công trình này, tác giả đã cung cấp khá toàn diện, hệ thống về những vấn đề lý luận cũng như là thực tiễn về DHTH và phát triển Năng lực dạy học tích hợp cho đội ngũ GV.
Đây là một nghiên cứu công phu, chi tiết, là nguồn tài liệu có giá trị tham khảo cho tác giả luận văn xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về đề tài [8]. Tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh cũng tiếp tục nghiên cứu về năng lực dạy học tích hợp trong một số nghiên cứu khác [9, tr. Trong 7 những nghiên cứu này, tác giả tiếp tục làm rõ hơn những vấn đề về KT, ĐG NLDHTH, từ khái niệm, quy trình thực hiện, thiết kế phiếu ĐG cho đến xây dựng công cụ đo lường NLDHTH. Với những nghiên cứu trên, tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh đã giúp các nhà nghiên cứu, nhà sư phạm có những căn cứ, cơ sở khá toàn diện, đầy đủ về năng lực dạy học tích hợp của GV.
Tác giả Lê Thị Hiền (2015) đã làm rõ khái niệm DHTH, phát triển NLDHTH, nghiên cứu thực trạng NLDHTH ở cấp THCS thành phố Thái Nguyên và đề xuất một số biện pháp tổ chức tập huấn, BD nâng cao năng lực dạy học tích hợp cho đội ngũ GV trong bài viết “Thực trạng DHTH của GV THCS thành phố Thái Nguyên - Những vấn đề đặt ra trong công tác tập huấn BD nâng cao NLDHTH” [17, tr. Đặng Thị Thuận An, Trần Trung Ninh (2015) trong bài viết “Phát triển Năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên sư phạm Hóa học” [1; tr.126-128] đã nghiên cứu về năng lực dạy học tích hợp của một nhóm đối tượng nhỏ là sinh viên sư phạm hóa học. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đã làm rõ một vài vấn đề lý luận cơ bản về năng lực dạy học tích hợp như khái niệm, cấu trúc của NLDHTH. Đây là những vấn đề lý luận mà luận văn có thể sử dụng để tham khảo, kế thừa những nội dung phù hợp.
Tác giả Lê Trung Hiếu (2016) nghiên cứu “Về năng lực dạy học tích hợp trong DH môn Toán của GV tiểu học” [18, tr. Bài viết đã nêu lên quan điểm của tác giả về DHTH ở góc độ tích hợp trong môn Toán. Tác giả cũng đã chỉ ra những mục tiêu của DHTH và phân tích lý do, nguyên nhân phải thực hiện DHTH trong môn Toán ở tiểu học. Từ những vấn đề lý luận chung, tác giả đã vậ dụng để chỉ rõ những thành tố, cấu trúc của NLDHTH của GV.
Có thể thấy rằng, NLDHTH và vấn đề BD, phát triển NLDHTH là vấn đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm nay. Các tác giả trong nước cũng đã nhanh chóng tiếp cận vấn đề này ở những phương diện, phạm vi nghiên cứu khác nhau. Ở các trường học, nhiều nhà giáo đã vận dụng DHTH 8 trong đổi mới GD, tuy nhiên mức độ sử dụng chưa thường xuyên và phạm vi áp dụng chưa phổ biến. Những năm gần đây, với sự phát triển bùng nổ của KHCN, đổi mới GD là vấn đề đặt ra cấp thiết cho nền GD vốn đã lạc hậu ở Việt Nam.
Các Nghị quyết, văn kiện của Đảng chỉ đạo mạnh mẽ, dứt khoát về đổi mới GD. Năm 2018, CTGDPT mới được ban hành thể hiện cho quyết tâm đổi mới của ngành GD. Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, chủ trương DHTH được tăng cường hơn so với chương trình trước đó và thể hiện rõ rệt trong nội dung chương trình. Ở cấp Tiểu học, tích hợp được thực hiện ở mức độ cao, các môn học mang tính tích hợp được xây dựng trên cơ sở các môn học đã có.
Ở cấp THCS và trung học phổ thông, tích hợp được thực hiện ở mức độ thấp với hai môn học xây dựng theo hướng tích hợp là KHTN và Lịch sử, Địa lý. Ngoài ra, các vấn đề mang tính thời sự toàn cầu được tích hợp trong tất cả các môn học. Lúc này, DHTH trở thành “một yêu cầu tất yếu của việc thực hiện nhiệm vụ DH ở trường phổ thông, là sự thể hiện quá trình thực hiện mục tiêu GD toàn diện” [3, tr 8]. Với sự thay đổi của chương trình giáo dục phổ thông 2018 như vậy, yêu cầu tất yếu đối với người GV là phải thay đổi cách thức DH.
Người GV phải có NLDHTH. Và để có được NLDHTH, các nhà QL phải quan tâm đến công tác BD năng lực dạy học tích hợp cho đội ngũ GV. Phạm Hồng Quân (2019) trong bài viết “Một số biện pháp BD năng lực dạy học tích hợp cho giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường đại học trong quân đội hiện nay” [24, tr 24-28], cũng đã góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực dạy học tích hợp. Từ góc độ đào tạo GV sư phạm các chuyên ngành khác nhau, các nhà sư phạm cũng quan tâm đến việc phát triển NL DH cho sinh viên ngay trong quá trình đào tạo trong nhà trường nhằm đáp ứng được yêu cầu đổi mới GD trên thực tiễn.
Tác giả Ngô Thị Nhung (2018) nghiên cứu về “Một số biện pháp phát triển Năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên đại học sư phạm kĩ thuật 9 trong DH nghiệp vụ sư phạm theo Module” [21, tr 26-30], Tác giả Trần Thị Kiểm Thu (2018) nghiên cứu về “Thực trạng và một số biện pháp BD năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên sư phạm Vật lí, trường đại học Cần Thơ” [25, tr 44-46],…. Những nghiên cứu này góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực dạy học tích hợp và vấn đề BD NLDHTH trong các cơ sở đào tạo GV sư phạm hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu về DHTH theo CTGDPT 2018, một số nhà nghiên cứu cũng đã quan tâm đến vấn đề NLDHTH của GV và BD NL DH cho giáo viên như: Tác giả Chu Thị Hảo (2020) trong nghiên cứu “Thực trạng NLDHTH của GV THCS tỉnh Phú Thọ theo chuẩn nghề nghiệp GV cơ sở GD phổ thông” [14, tr 17-21] đã khẳng định việc BD năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên là yêu cầu cấp thiết hiện nay để đáp ứng được CTGDPT 2018. Bài viết đã đề cập đến khá nhiều quan điểm về năng lực dạy học tích hợp, từ đó tác giả cũng đã đưa ra quan điểm của cá nhân về năng lực dạy học tích hợp và làm rõ những thành phần của NLDHTH.
Những lý luận trong công trình nghiên cứu này. Luận văn có thể sử dụng để tham khảo, kế thừa và vận dụng xác định khái niệm, cấu trúc của NLDHTH của GV THCS. Như vậy, có thể thấy rằng, NLDHTH và BD NLDHTH là không phải là vấn đề quá mới những vẫn còn tính cấp thiết trong đổi mới GD hiện nay. Vấn đề này được nghiên cứu ở nhiều phạm vi, góc độ khác nhau, từ những nghiên cứu chung về BD năng lực dạy học tích hợp cho đội ngũ GV phổ thông cho đến những nghiên cứu về BD năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên ở từng môn học, trong các cơ sở đào tạo, BD sinh viên hay cho chính đội ngũ giảng viên trong các cơ sở GD đại học,.
Hệ thống những quan điểm, những kết quả khảo sát thực trạng cũng như những biện pháp mà các nghiên cứu đề cập đến đã góp phần tạo nên một hệ thống lý luận và thực tiễn về NL DH và BD NL DH phong phú, đa dạng, là nguồn tài liệu quý giá để luận văn tham khảo, kế thừa. Nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên môn Khoa học tự nhiên ở trường trung học cơ sở QL BD NL DH cho giáo viên nói chung là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm và thực hiện từ giữa thế kỷ XX. Các công cụ đo lường NL DH của GV được xây dựng ở nhiều quốc gia. Đó là các bộ chuẩn nghề nghiệp GV, các bộ chuẩn NL GV ở các nước như Thụy Sỹ, Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật, Trung Quốc….Các công cụ này được các nhà QL sử dụng để QL việc BD NL DH cho đội ngũ GV.
Nó vừa là nội dung để nhà QL tổ chức hoạt động BD, vừa là thước đo kết quả của hoạt động BD NL DH cho giáo viên. Ở nước ta, vấn đề làm thế nào để chất lượng của đội ngũ GV đáp ứng được những yêu cầu mới trong GD&ĐT cũng luôn là vấn đề nhiều nhà GD, nhà QL trăn trở. QL BD NL DH cho đội ngũ GV được coi là một bộ phận của QL GD nhằm làm cho đội ngũ GV đủ năng lực, trình độ thực hiện những nhiệm vụ, những yêu cầu mới, cũng là trách nhiệm của nhà QL nhằm làm cho hệ thống GD ngày càng được cải thiện, đổi mới, nâng cao hiệu quả, chất lượng. Trong các công trình nghiên cứu chung về QL GD của các nhà nghiên cứu như Trần Kiểm, Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thị Tính, Nguyễn Ngọc Quang, Đỗ Hoàng Toàn, Phạm Hồng Quang,… QL được đề cập đến là QL GD, QL nhà trường, là những vấn đề lý luận chung.