CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nước ngoài Trong lịch sử phát triển của loài người ở bất kỳ thời đại nào, quốc gia nào thì con người chính là động lực của sự phát triển, nền văn minh nhân loại ngày này mang đậm dấu ấn của những con người có trí tuệ. Chính họ là người đã tạo ra những bước tiến, bước đột phá trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, sản sinh ra các nền văn minh cũng như tạo ra những giá trị vật chất tinh thần tiêu biểu.
Đặc biệt ngày nay với thời đại 4.0 khi mà việc “cạnh tranh chất xám” diễn ra ngày càng gay gắt thì nhiều nước càng quan tâm hơn tới chiến lược đào tạo nhân tài, đầu tư cho giáo dục. Đầu tư phát triển nhân tài chính là chiến lược quyết định cho sự phồn thịnh của mỗi quốc gia, dân tộc nhất là với tình hình hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày một cạn kiệt và chỉ có tri thức mới là nguồn tài nguyên vô tận và không bao giờ cạn kiệt. Quốc gia nào sở hữu nhiều nhân tài, nguồn lao động tri thức dồi dào thì quốc gia đó sẽ chiến thắng trong quá trình hội nhập quốc tế. Thực tế là không phải cho đến ngày nay tầm quan trọng của những người tài giỏi và việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài mới được chú trọng mà trên thế giới việc đào tạo và phát triển nhân tài đã có từ rất lâu.
Ở Trung Quốc, từ đời nhà Đường những trẻ em có tài đặc biệt được mời đến sân rồng để được học tập và được giáo dục bằng những hình thức đặc biệt [10]. Ở châu Âu trong suốt thời Phục hưng, những người có tài năng đều được nhà nước và các tổ chức cá nhân bảo trợ, giúp đỡ; với Hoa Kì mãi đến thế kỉ XIX mới chú ý tới vấn đề BDHSG và tài năng. Đầu tiên là hình thức giáo dục linh hoạt tại trường St. Public Schools Louis năm 1868 tạo điều kiện những HSG học chương trình 6 năm trong vòng 4 năm; sau đó lần lượt là các trường Woburn; Elizabeth; Cambridge…;và trong suốt thế kỉ XX, hàng loạt các tổ chức và các trung tâm nghiên cứu, BDHSG ra đời.
Năm 2002 có 38 bang của Hoa Kỳ có đạo luật về giáo dục HSG (Gifted & Talented Student Education Act) trong đó 28 bang có thể đáp ứng đầy đủ cho việc giáo dục HSG; Nước Anh thành lập cả một Viện Hàn lâm quốc gia dành cho HSG và tài năng trẻ và Hiệp hội quốc gia dành cho HSG, bên cạnh Website hướng dẫn GV dạy cho HSG và HS tài năng; Từ năm 2001 chính quyền New Zealand đã phê chuẩn kế hoạch phát triển chiến lược HSG; CHLB Đức có Hiệp hội dành cho HSG và tài năng Đức; Ở châu Á Hàn Quốc có một chương trình giáo dục phổ thông đặc biệt dành cho HSG nhằm giúp phát hiện HS tài năng từ sớm. Năm 1994 có khoảng 57/ 174 cơ sở giáo dục ở Hàn Quốc tổ chức chương trình này[11]. Từ năm 1985, Trung Quốc thừa nhận phải có một chương trình giáo dục đặc biệt dành cho hai loại đối tượng HS yếu kém và HSG, trong đó cho phép các HSG có thể học vượt lớp [10]; với Ấn Độ một 7 trong 15 mục tiêu ưu tiên của Viện quốc gia nghiên cứu giáo dục và đào tạo là phát hiện và bồi dưỡng HS tài năng.; Bên cạnh đó cũng có một số nước không coi trọng vấn đề HSG như Nhật Bản và một số bang của Hoa Kỳ. Đối với Nhật Bản việc giáo dục HSG sẽ được tiến hành qua các nhóm và các course HS sẽ được học với trình độ cao hơn; vì thế vấn đề BDHSG đã trở thành vấn đề thời sự gây nhiều tranh luận: “Nhiều nhà giáo dục đề nghị đưa HSG vào các lớp bình thường với nhiều HS có trình độ và khả năng khác nhau, với một phương pháp giáo dục như nhau” [11].
Ở một số trường hợp khác GV các lớp bình thường không được đào tạo và giúp đỡ tương xứng với chương trình dạy choHSG và những HS dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa hoặc những em không có điều kiện kinh tế cũng không tiếp nhận được chương trình giáo dục này. Trong khi quỹ dành cho giáo dục chung là có hạn nên sẽ ảnh hưởng nhiều tới hiệu quả đào tạo. Có thể thấy, hầu như các nước đều coi trọng vấn đề đào tạo và BDHSG trong chiến lược phát triển chương trình giáo dục phổ thông. Nhiều nước để riêng thành một mục dành choHSG, một số khác lại coi đó là một dạng giáo dục đặc biệt hoặc chương trình đặc biệt, dù cách tiếp cận và tổ chức có thể khác nhau nhưng việc ưu tiên phát triển, quan tâm, chú ý đầu tư luôn được chú trọng và thúc đẩy.
Trong nước Có thể thấy suốt chiều dài phát triển của đất nước ta, những người tài đức (hiền tài, nhân tài, hào kiệt…) luôn được nhân dân ta kính trọng và tôn vinh. Họ có thể là hiền nhân, tài giỏi có phẩm chất đạo đức mẫu mực, có tri thức sâu rộng trong nhiều lĩnh vực, có nhiều sáng tạo trong công việc, nhiều cống hiến to lớn cho nhân dân, đất nước, thậm chí có thể mở ra một bước ngoặc phát triển trong lịch sử dân tộc. Truyền thống “Kính trọng người hiền tài” được hình thành sớm và ngày càng được phát triển. Ngay từ thời các vua Hùng tới các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn, nhất là từ thời nhà Lý trở đi, ông cha ta đã rất quan tâm tới các khâu trong chính sách xây dựng và phát triển đội ngũ những người hiền tài cho đất nước vì thế giáo dục khoa cử đã được triều đình chú trọng.
Bắt đầu từ việc nhà Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu (1070) và mở khoa thi đầu tiên (1075), rồi cho xây dựng Quốc Tử Giám (1076). Đến triều Trần rồi triều Hồ, giáo dục và khoa cử ngày càng được cải thiện, tổ chức quy củ và chặt chẽ hơn nhất là các học vị của khoa thi Đình. Và đi kèm với đó vấn đề bồi dưỡng người tài đức đã được nhiều triều đại phong kiến Việt Nam trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước coi trọng. Thân Nhân Trung viết bài văn cho tấm bia đầu tiên ở Văn Miếu, ông ghi nhận về tri thức “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn, nguyên khí suy nhược thì nước yếu và ngày càng xuống cấp”.
Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra 8 đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa quan trong trong tiến trình đi lên của đất nước trong đó có công tác bồi dưỡng những người có năng lực, có tài để cống hiến cho đất nước và đã xác định “nhân tài không phải là sản phẩm tự phát mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu”. Trong những nhiệm vụ trong tâm của công tác cán bộ nửa cuối nhiệm kì Đại hội X, Trung ương Đảng xác định có nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng chiến lược quốc gia về nhân tài. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng và nhà nước ta tiếp tục xác định “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa hoc và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển…”. Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 13/6/2012, tại phần 3 mục III, quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục trong đó nhấn mạnh phải thỏa mãn nhu cầu của mỗi người hoc, đến công tác đào tạo, BDHSG, sinh viên tài năng [19].
Ngày 25/11/2011 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế thi chọn HSG cấp quốc gia theo thông tư số 56/2011/TT- BGDĐT. Quy chế này quy định ve việc thi chọn HSG quốc gia đồng thời giao cho các địa phương quy định cụ thể về việc tổ chức các kỳ thi chọn HSG cấp cơ sở tại đơn vị, địa phương [3]. Với quan điểm trên nên trong thời gian qua chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến và đội ngũ HSG ở Việt Nam ngày càng được phát triển thể hiện qua số lượng HSG đạt giải cao trong kỳ thi thế giới. Đã có nhiều HSG trở thành các nhà khoa học đầu ngành trong tất cả các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật đang phục vụ trong nước và trên toàn thế giới như GS.TS Ngô Bảo Châu, người đã đạt giải thưởng Fields danh giá trong lĩnh vực Toán học năm 2010 và nhiều nhà khoa học hàng đầu khác.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Nguồn gốc phát triển của loài người đó là thông qua lao động của cá nhân và lao động chung, C. Mác đã khẳng định: “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất….Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Lao động chung cần có tổ chức và thống nhất để đạt đến mục đích chung nên qua lịch sử phát triển loài người xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức- điều khiển con người theo một yêu cầu nhất định.
Dạng lao động đó gọi là quản lý. Quản lý là chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của xã hội. Để đạt được mục tiêu chung thì cần phải có sự phối hợp của nhiều cá nhân, phải có sự liên kết của tập thể, phải có sự tổ chức, phân công, hợp tác và phải có sự quản lý. Và xã hội càng phát triển và đến một trình độ nhất định thì dần hình thành những tổ chức, tập thể, cơ quan chuyên về hoạt động quản lý.
Khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học và với tầm quan trọng như vậy nên đã hình thành cả một ngành khoa học- Khoa học quản lý. 9 Các nhà nghiên cứu nhiều góc độ tiếp cận nên có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý. Nếu xét về chức năng, quản lý là hệ thống tổ chức nên cũng có nhiều cách định nghĩa. Theo Mary Follet ( Mỹ): Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác.