Chương 1: Tổng quan Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động đối với người lao động xây dựng tự do tại tỉnh Lạng Sơn. Chương 3: Đề xuất giải pháp quản lý an toàn vệ sinh lao động đối với người lao động xây dựng tự do tại tỉnh Lạng Sơn. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm 1.
Điều kiện lao động Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹ thuật, tự nhiên thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa chúng trong không gian và thời gian nhất định tạo nên những điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất. Các nhóm yếu tố của điều kiện lao động gồm: các nhóm yếu tố về môi trường lao động (nhóm yếu tố về vật lý như bụi, tiếng ồn, rung động, nhiệt độ, áp suất, bức xạ ion và không ion,…; nhóm yếu tố về hóa học; nhóm yếu tố về sinh học như virut, vi khuẩn, kí sinh trùng); nhóm yếu tố về tâm - sinh lý (yếu tố quá tải về thể lực của người lao động hoặc căng thẳng cơ quan phân tích do sự đơn điệu của thao tác lao động cũng như quá xúc động trong quan hệ lao động và các tác động về mặt xã hội làm căng thẳng tâm lý người lao động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công việc gây ảnh hưởng đến năng suất lao động và là nguy cơ gây TNLĐ); nhóm yếu tố về thẩm mĩ (điều kiện cơ sở vật chất; bố trí, sắp xếp máy, thiết bị, dụng cụ khoa học và hợp lý, tạo nơi làm việc gọn gàng và ngăn nắp cũng như tạo không gian làm việc tối ưu; hình dáng, kích thước và mầu sắc của các máy thiết bị, vấn đề vệ sinh công nghiệp…); nhóm yếu tố về kinh tế - xã hội, thể hiện qua các chính sách của Nhà nước, tạo điều kiện để tiếp cận các nguồn vốn đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, nhà xưởng, kho bãi…, hoặc các chương trình, chính sách về ATVSLĐ nhằm hỗ trợ NLĐ nâng cao nhận thức và tiếp cận được với các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, hệ thống quản lý ATVSLĐ để hạn chế TNLĐ, BNN [12]. Người lao động tự do Hiện nay, trong các văn bản pháp luật tại Việt Nam không có khái niệm về "người lao động tự do". Một số thuật ngữ chỉ về lao động "tự do" được đề cập chưa đồng nhất trong các văn bản như: người không có quan hệ lao động; người làm việc không theo HĐLĐ, người làm việc không có giao kết HĐLĐ.
Tại Khoản 6, Điều 3, Bộ luật Lao động: "Người làm việc không có quan hệ lao động là người làm việc không trên cơ sở thuê mướn bằng hợp đồng lao động" [15]. Tại Khoản 5, Điều 3, Bộ luật Lao động quy định: Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ, NSDLĐ, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể [15]. Tại Điều 13, Bộ luật Lao động quy định: Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thoả thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của mỗi bên thì được coi là hợp đồng lao động [15]. Tại Luật An toàn, vệ sinh lao động có quy định về đối tượng áp dụng là "người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động" [16]. Tóm lại, lao động tự do chỉ người lao động có việc làm không ổn định, không chịu sự quản lý về việc làm của cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, phần lớn là người tự làm để tạo ra thu nhập, tuy có thoả thuận về việc làm, nhưng không có giao kết HĐLĐ với NSDLĐ. Quản lý an toàn vệ sinh lao động Quản lý là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ.
Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên (hoặc tình nguyện viên) để hoàn thành các mục tiêu của mình thông 11 qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực. An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động. Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khoẻ cho con người trong quá trình lao động. Quản lý ATVSLĐ là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình lao động sản xuất và hành vi lao động của người lao động nhằm đạt được mục tiêu môi trường lao động tốt, đảm bảo an toàn và sức khoẻ cho người lao động, tạo cho quá trình lao động sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Tổng quan hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động của các nƣớc trên thế giới Hệ thống quản lý là "Tập hợp các yếu tố có liên quan hoặc tương tác lẫn nhau của tổ chức để thiết lập chính sách, mục tiêu và các quá trình để đạt được các mục tiêu đó." Các yếu tố của hệ thống quản lý chất lượng thiết lập cơ cấu, vai trò và trách nhiệm, việc hoạch định, vận hành, chính sách, thực hành, quy tắc, niềm tin, mục tiêu của tổ chức và các quá trình để đạt được những mục tiêu đó. Phạm vi của hệ thống quản lý có thể bao gồm toàn bộ tổ chức, các chức năng cụ thể được nhận biết trong tổ chức, các bộ phận cụ thể được nhận biết của tổ chức, hoặc một hay nhiều chức năng xuyên suốt một nhóm tổ chức. Hệ thống quản lý ATVSLĐ đang được áp dụng trên thế giới và trong khu vực sử dụng phương pháp kiểm soát an toàn chỗ làm việc, một phương pháp kiểm soát mang tính phòng ngừa cao, thể hiện ở chỗ kiểm soát các mối nguy hại được thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro, bao gồm các bước: nhận diện các mối nguy hại phát sinh tại chỗ làm việc, đánh giá rủi ro do 12 chúng gây ra đối với an toàn và sức khoẻ người lao động, trên cơ sở đó xây dựng và thực hiện các giải pháp kiểm soát, phòng ngừa rủi ro. Các hệ thống quản lý ATVSLĐ đang được sử dụng ở các nước khác nhau trên thế giới hay trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương tuy có khác nhau về số lượng, tên gọi và thứ tự các thành phần chính của hệ thống quản lý song đều được xây dựng trên cơ sở phương pháp tiếp cận hệ thống đối với quản lý - đó là chu trình quản lý Deming, bao gồm các bước Hoạch định - Thực hiện - Kiểm tra - Hành động.
Hoạch định: xây dựng mục tiêu và giải pháp cần thiết để đạt được các kết quả tương ứng với chính sách của doanh nghiệp về ATVSLĐ. Thực hiện: tổ chức thực hiện các giải pháp đã được hoạch định nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Kiểm tra: theo dõi, đo lường các kết quả thực hiện, đối chiếu kết quả thực hiện với các mục tiêu, chính sách, tiêu chuẩn, qui chuẩn, qui phạm của Nhà nước về ATVSLĐ và báo cáo kết quả. Hành động: thực hiện các hành động khắc phục và phòng ngừa nhằm nâng cao kết quả hoạt động ATVSLĐ của doanh nghiệp [26].
Các mối nguy hại phát sinh trong quá trình sản xuất được quản lý theo nguyên tắc quản lý rủi ro, nghĩa là tất cả các mối nguy hại được nhận diện, đánh giá rủi ro do chúng gây ra đối với an toàn và sức khoẻ người lao động, trên cơ sở đó xây dựng và thực hiện các giải pháp kiểm soát nhằm giảm thiểu rủi ro tới mức chấp nhận được. Lãnh đạo doanh nghiệp chịu trách nhiệm cao nhất đối với ATVSLĐ, tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý và có vai trò quyết định đối với thành công của hệ thống quản lý ATVSLĐ. Người lao động và đại diện của người lao động tham gia vào quá trình quản lý ATVSLĐ. Người lao động được đào tạo, cung cấp thông tin về ATVSLĐ để có đủ năng lực tham gia vào quá trình quản lý ATVSLĐ và đóng góp phần quan trọng vào thành công của hệ thống quản lý ATVSLĐ.
Thực hiện kiểm tra, kiểm toán nhằm đánh giá khách quan, trung thực các kết quả hoạt động ATVSLĐ, tìm ra những khiếm khuyết của hệ thống 13 quản lý, trên cơ sở đó, thực hiện các giải pháp khắc phục và phòng ngừa tương ứng. Lãnh đạo doanh nghiệp định kỳ xem xét lại toàn bộ hệ thống quản lý ATVSLĐ, đánh giá sự phù hợp, tương ứng và hiệu quả của hệ thống, trên cơ sở đó đưa ra quyết định thay đổi về chính sách, mục tiêu và cả hệ thống quản lý nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động ATVSLĐ của doanh nghiệp. Qua nghiên cứu cho thấy có 2 hệ thống quản lý ATVSLĐ có nhiều ưu việt và mang lại hiệu quả cao trong quá trình áp dụng thực hiện: * Hệ thống quản lý ATVSLĐ theo hƣớng dẫn của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO-OSH 2001) ILO đặt ra Hiến chương với các nguyên tắc để bảo vệ người lao động khỏi bệnh tật và phát sinh chấn thương từ việc làm của họ. Trên cơ sở đó, ILO xây dựng các tiêu chuẩn về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp nhằm cung cấp các công cụ cần thiết cho chính phủ các nước thành viên, NSDLĐ và NLĐ để bảo đảm tối đa sự an toàn trong công việc.
Năm 2003, ILO đã thông qua một chiến lược toàn cầu để cải thiện ATLĐ và sức khoẻ trong đó, bao gồm giới thiệu các tiêu chuẩn an toàn và sức khoẻ văn hoá phòng ngừa, thúc đẩy và phát triển các công cụ có liên quan, hỗ trợ kỹ thuật.