mở đầu quá trình mở rộng ASEAN, tạo điều kiện để các nước Campuchia, Lào và Myanmar gia nhập, hoàn tất mục tiêu của Tuyên bố Bangkok về một ASEAN bao gồm tất cả các nước Đông Nam Á. Mối quan hệ giữa Lào với các nước ASEAN cũng không ngừng được cải thiện trên tinh thần tăng cường hợp tác khu vực. Ngày 11/7/1992, tại Hội nghị lần thứ 25 Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN, Lào chính thức tham gia Hiệp ước Bali và trở thành quan sát viên của tổ chức này. Đến năm 1993, vấn đề Campuchia được giải quyết đã mở ra một gia đoạn mới trong quá trình hợp tác giữa ASEAN với ba nước Đông Dương.
Ngày 23/7/1997, cùng với Myanma, Lào cũng đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN. Việc Việt Nam và Lào cùng tham gia vào tổ chức ASEAN vừa góp phần mang lại những sắc màu mới cho một “tinh thần ASEAN” mềm dẻo, linh động và sáng tạo, tăng cường mối quan hệ hợp tác song phương, đa phương, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, nhằm mục tiêu xây dựng một khu vực ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển, “từ nay, quan hệ Việt Nam - Lào được đặt đúng trong môi trường địa - chính trị, địa - kinh tế, địa - văn hóa của khu vực, nhờ vậy tiếp tục phát huy được các nhân tố bên trong và đặc thù của mỗi nước, xây dựng và phát triển quan hệ láng giềng tốt không những giữa hai nước với nhau mà còn xây dựng và phát triển quan hệ đồng đều với tất cả các nước láng giềng khác trong khu vực” [ 35; tr 30]. Việc tham gia vào ASEAN 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng là cơ sở để Việt Nam và Lào tăng cường hợp tác với các nước, các khu vực khác trên thế giới, mở rộng các mối quan hệ, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với mỗi nước trong việc vừa mở rộng mối quan hệ đối ngoại, vừa vun đắp, phát triển mối quan hệ truyền thống giữa hai nước ngày càng gắn bó, phát triển toàn diện hơn.
Ở trong nước, trong hơn 10 năm cả nước tiến hành xây dựng CNXH (1975-1986), Đảng và nhân dân ta vừa làm vừa tìm tòi thể nghiệm con đường XHCN. Kết quả là đã đạt được những thành tựu đáng kể trong các lĩnh vực. Song chúng ta cũng đã vấp phải những khó khăn to lớn và ngày càng gia tăng, làm cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về mọi mặt. Bên ngoài thì những diễn biến mới của tình hình quốc tế, nhất là sự khủng hoảng, trì trệ trong phát triển kinh tế - xã hội trong các nước XHCN, sự rạn nứt trong quan hệ giữa các nước lớn, đã tác động không nhỏ đến nước ta.
Một số thế lực thù địch tiếp tục mưu toan bao vây, cấm vận, cô lập Việt Nam với cộng đồng quốc tế, chống phá cách mạng quyết liệt. Để khắc phục những sai lầm khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng và đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng CNXH, đổi mới là con đường tất yếu của các nước XHCN, trong đó có Việt Nam. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong đổi mới tư duy, cách thức tiếp cận để xem xét các vấn đề thời đại, tình hình thế giới, giải quyết tổng thể các vấn đề trong nước nằm trong bối cảnh quốc tế và thời đại để xử lý những diễn biến mau lẹ những biến đổi bên ngoài, phục vụ mục tiêu đổi mới và phát triển đất nước. Tháng 8-1988, Bộ Chính trị BCH Trung ương khóa VI đã thông qua Nghị quyết số 13-NQ/TW về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới.
Đây là mốc quan trọng thể hiện sự đổi mới tư duy trên lĩnh vực đối ngoại. Với chủ đề “giữ vững hòa bình, phát triển kinh tế”, nhấn mạnh nhiệm vụ ngoại 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giao phục vụ ổn định chính trị, ưu tiên phát triển kinh tế là hàng đầu, đồng thời bảo vệ Tổ quốc, nhấn mạnh quan điểm kết hợp sức mạnh của thời đại, trong điều kiện của tình hình thế giới thay đổi. Cuối những năm 80, đầu những năm 90, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến mau lẹ, phức tạp. Sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN, đứng đầu là Liên Xô đã ảnh hưởng không nhỏ tới Việt Nam bởi Liên Xô vẫn luôn được coi là "anh cả" trong phong trào cách mạng thế giới và trong những năm chiến tranh chống đế quốc, thực dân xâm lược cũng như những năm đầu xây dựng đất nước, Liên Xô và các nước Đông Âu luôn là chỗ dựa vững chắc cả về tinh thần lẫn vật chất cho Việt Nam.
Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu là những ví dụ điển hình để Việt Nam rút ra được bài học kinh nghiệm, điều chỉnh đường lối đổi mới của đất nước, trong đó có đường lối đối ngoại, phù hợp với lý luận và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Chính sách đối ngoại của Đảng thực sự có bước ngoặt kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), trên cơ sở phân tích những biến động của tình hình thế giới, Đảng ta khẳng định, mặc dù chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ khiến CNXH tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Đồng thời, Đảng cũng làm rõ thêm một số đặc điểm chủ yếu của giai đoạn hiện nay, như: vai trò của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của toàn cầu hóa kinh tế như là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực; vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh; ảnh hưởng tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Điều đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước lạc hậu về kinh tế.
Xuất phát từ tình hình thế giới và tình hình cụ thể của đất nước, Đảng đã đề ra và phát triển đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, với phương châm chủ đạo là "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển". Tiếp đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) tiếp tục khẳng định chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam là: Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Việt Nam đã trải qua nhiều năm chiến tranh nên lợi ích lớn nhất lúc này là duy trì hòa bình, ổn định khu vực, tạo lập môi trường quốc tế và khu vực thuận lợi cho công cuộc đổi mới. Về kinh tế, thách thức lớn đối với Việt Nam để hội nhập được vào xu thế chung của thế giới là ưu tiên phát triển kinh tế.
Là một nước nằm trong khu vực có tốc độ phát triển kinh tế vào loại cao nhất thế giới, Việt Nam cần phải có nhiều cố gắng để tránh tụt hậu. Xuất phát từ thực tế đó, Việt Nam đã tăng cường và phát triển các mối quan hệ hợp tác với bên ngoài, trước hết là các nước trong khu vực Đông Nam Á. Trong xu thế hòa bình, đối thoại ngày càng được mở rộng và với những nỗ lực của Việt Nam trong việc giải quyết "vấn đề Campuchia", quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước Đông Nam Á ngày càng được cải thiện. Trong 2 năm 1991-1992, Việt Nam đã ký kết với các nước thành viên ASEAN gần 40 hiệp định các loại, làm cơ sở pháp lý cho các mối quan hệ hợp tác đang ngày càng mở rộng.
Năm 1993, Việt Nam được mời tham gia diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) để bàn về các vấn đề chính trị và an ninh của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và được coi là một trong những nước sáng lập diễn đàn này. Từ năm 1994, Việt Nam đã tham gia vào 6 ủy ban và 5 dự án chuyên ngành của ASEAN, các nước ASEAN cũng cử nhiều đoàn đại biểu đến Việt Nam để tìm hiểu và thăm dò khả năng hợp tác. Quan hệ Việt Nam - ASEAN ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trong xu thế hội nhập và hợp tác để cùng phát triển ngày càng tiến triển mạnh mẽ.
Việt Nam và ASEAN đều có quyết tâm cao trong việc xây dựng và 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực vì lợi ích chung của cả khu vực. Tại hội nghị Bộ trưởng Ngoại giáo ASEAN lần thứ 27 tại Băng Cốc (Thái Lan) vào tháng 7/1994, các nước ASEAN đã nhất trí tuyên bố sẵn sàng công nhận Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN. Ngày 28/7/1995, tại Brunây, Lễ kết nạp chính thức Việt Nam làm thành viên thứ 7 của ASEAN đã được tổ chức trọng thể. Cùng với quan hệ Việt Nam - ASEAN, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Hoa Kỳ thời kỳ này cũng có nhiều bước chuyển biến mới.
Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, từ đầu những năm 80, giữa Trung Quốc và Việt Nam đã diễn ra các cuộc tiếp xúc cấp Thứ trưởng. Cả hai nước đều mong muốn giải quyết những bất đồng, duy trì ổn định ở biên giới, đảm bảo yêu cầu hòa bình để thực hiện công cuộc cải cách và đổi mới ở mỗi nước. "Vấn đề Campuchia" - trở ngại lớn nhất trong quan hệ hai nước cũng đã được giải quyết. Năm 1990, phái đoàn cấp cao Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu đã đến thăm Trung Quốc.
Hai bên đã tiến hành nhiều cuộc hội đàm quan trọng. Đến tháng 11/1990, tại hội đàm ở Bắc Kinh, hai bên đã chính thức ra Thông cáo chung đánh dấu sự bình thường hóa quan hệ hai nước sau một thập niên căng thẳng. Mối quan hệ được xác định trên cơ sở 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình và hai bên cùng có lợi. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, từ đầu những năm 90, mối quan hệ giữa hai nước ngày càng được cải thiện bằng những nỗ lực từ cả hai phía.