CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu về quan hệ thương mại nói chung Về mặt lý luận, hiện có nhiều công trình nghiên cứu về QHTM. Nội dung các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào ba vấn đề cơ bản trong hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Thứ nhất, nghiên cứu về nguồn gốc của TMQT (còn gọi là cơ sở TMQT), đây chính là vấn đề cơ bản cốt lõi nhất nhằm giải thích về nguồn gốc QHTM giữa các quốc gia.
Thứ hai, các nghiên cứu xây dựng mô thức TMQT (còn gọi là quy luật TMQT) nhằm xác định mỗi quốc gia nên xuất khẩu (bán) loại hàng hoá nào và nên nhập khẩu (mua) loại hàng hoá nào? Vấn đề cuối cùng là hoạt động QHTM sẽ mang lại những lợi ích kinh tế như thế nào cho mỗi quốc gia. Theo đó, mỗi quốc gia cần CMH sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà quốc gia đó sản xuất với chi phí sản xuất thấp hơn (tức đạt lợi thế tuyệt đối) và nhập khẩu các sản phẩm với chi phí sản xuất cao hơn (không có lợi thế tuyệt đối). Tuy nhiên, Ricardo. Theo ông, khi một quốc gia kém hiệu quả sản xuất (không có lợi thế tuyệt đối) so với quốc gia khác thì TMQT vẫn xảy ra và mang lại lợi ích cho cả hai bên.
Theo đó, mỗi quốc gia nên CMH sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa đạt LTSS và nhập khẩu những hàng hoá không có LTSS. Và cơ sở để xác định LTSS dựa trên năng suất lao động tương đối hoặc chi phí sản xuất tương đối của hàng hoá [128]. Lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo được coi là cơ bản, đặt cơ sở nền tảng cho TMQT, và sau đó đã được phát triển thêm bởi Mill, Marshall, Taussig, Haberler… Heckscher & Ohlin (1933) đã đưa ra cách xác định khác về LTSS. Cụ thể, LTSS phát sinh từ sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia.
Một quốc gia có lợi thế tương đối về những sản phẩm sử dụng thâm dụng yếu tố dư thừa ở quốc gia đó [78]. Tuy nhiên, các lý thuyết mà NCS vừa nêu trên đều được xây dựng bởi hệ thống các giả định như tuân theo thuyết giá trị lao động, nghiên cứu trong thị trường cạnh 9 tranh hoàn hảo, hiệu suất không đổi theo quy mô, cùng trình độ công nghệ… và những giả định này đã không còn phù hợp với bối cảnh TMQT ngày càng phát triển. Do đó, cùng với sự phát triển của TMQT, các lý thuyết TMQT mới cũng lần lượt được ra đời nhằm giải thích QHTM giữa các quốc gia đi gần với thực tiễn hơn. Cụ thể, luận án tham khảo một số tác phẩm nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả như: Linder (1961), Posner (1961), Vernon (1966), và Krugman (1979).
Đây là những nghiên cứu đã khắc phục được những hạn chế trong giả định của các lý thuyết thương mại trước đó đưa ra. Paul Krugman & Maurice Obstfeld (2021), đã đưa ra hai nội dung bao gồm lý thuyết TMQT và chính sách TMQT. Trong lý thuyết TMQT, bằng việc giới thiệu những lý thuyết thương mại kinh điển như: lợi thế tương đối của Ricardo, mô hình yếu tố sản xuất chuyên biệt, mô hình thương mại chuẩn, mô hình H-O, mô hình lợi thế theo quy mô… tác giả đã đưa ra những cơ sở thương mại dẫn đến sự giao thương hàng hóa giữa các quốc gia, mô thức thương mại và những lợi ích từ TMQT. Về chính sách TMQT, ông đã nghiên cứu những tác động của việc áp dụng các công cụ ngoại thương như thuế, hạn ngạch, trợ cấp… đến phúc lợi của các quốc gia [119].
Về mặt thực tiễn, đến nay đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến QHTM giữa các quốc gia. Bên cạnh đó, Trần Quang Huy (2015) nghiên cứu QHTM ở hai cấp độ là cấp độ thể chế và cấp độ thực thể thương mại. Theo tác giả, trong cấp độ thể chế, QHTM với sự tham gia của quốc gia và các thực thể công, được hiểu là QHTM ở cấp độ chính sách thương mại (bao gồm: quan hệ liên chính phủ trong lĩnh vực thương mại; đàm phán ký kết FTA; hợp tác và xúc tiến thương mại tầm vĩ mô; các cơ chế, chính sách giải quyết tranh chấp về thương mại giữa hai bên). Ngược lại, ở cấp độ thực thể thương mại, QHTM có sự tham gia chủ yếu của thương nhân, bao gồm cá nhân và doanh nghiệp, và bao gồm ba nội dung chủ yếu là TMHH; TMDV và quan hệ hợp tác đầu tư [17].
10 Ngoài ra, nghiên cứu về QHTM còn tiếp cận theo hai xu hướng: QHTM hàng hóa và/hoặc QHTM dịch vụ. Các nghiên cứu bao gồm: (i) phân tích QHTM thông qua các chỉ tiêu về TMQT; (ii) đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến QHTM giữa hai quốc gia. (ii) Ở góc độ các yếu tố ảnh hưởng đến QHTM. Ban đầu, các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào ảnh hưởng của khoảng cách địa lý đến QHTM (Rajendra K.
Nhìn chung, các nghiên cứu xác định khoảng cách là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến cường độ thương mại giữa các quốc gia. Các quốc gia càng gần nhau về mặt địa lý sẽ có xu hướng giao dịch tương đối nhiều hơn các quốc gia ở xa hơn (Beckerman, W. Sau đó, các nghiên cứu tìm thấy có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến TMQT (Md Zahangir Alam, 2022) [108]. Chẳng hạn như FTA, chính sách thương mại, quy mô nền kinh tế, khoảng cách văn hóa, sự chênh lệch về kinh tế, trình độ khoa học công nghệ, lạm phát, ngôn ngữ, độ mở nền kinh tế, quy mô dân số, tỷ giá hối đoái và đường biên giới chung… là 11 những yếu tố có ảnh hưởng đến QHTM.
Nhận định về ảnh hưởng từ các yếu tố này đến QHTM giữa các quốc gia có thể kể đến một số nghiên cứu như sau: Linneman, Hans. (1966) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định dòng chảy thương mại giữa 80 quốc gia. Ông thấy, GNP (Gross National Product – Tổng sản phẩm quốc gia), dân số, khoảng cách và thỏa thuận thương mại ưu đãi là những yếu tố ảnh hưởng đến cả quy mô xuất khẩu và quy mô nhập khẩu giữa các quốc gia này. Các biến có ảnh hưởng nhiều là GNP và khoảng cách giữa hai quốc gia.
Các biến khác, mặc dù có ý nghĩa thống kê, nhưng có giá trị giải thích hạn chế hơn [105]. Green (1986) nghiên cứu về luồng thương mại giữa 45 quốc gia xuất khẩu và 82 quốc gia nhập khẩu với các biến như khoảng cách, dân số, GDP, danh mục sản phẩm, bất ổn chính trị, sự tương đồng về văn hóa. Nghiên cứu cho thấy dân số và GDP tác động tích cực, trong khi đó, khoảng cách giữa các quốc gia tác động tiêu cực đến thương mại. Đồng thời, nghiên cứu còn chỉ ra rằng sự bất ổn chính trị ảnh hưởng đáng kể đến xuất khẩu nhưng ít ảnh hưởng đến nhập khẩu.
Sự tương đồng về văn hóa cũng có tác động rõ rệt đến dòng chảy thương mại giữa các quốc gia thành viên trong một liên minh kinh tế. Cuối cùng, các yếu tố này có ảnh hưởng đến thương mại song phương ở hàng hóa chế tạo nhiều hơn so với hàng hóa thực phẩm và nguyên liệu thô [126]. Nguyễn Thị Hồng Nhung & cộng sự (2005), đã đưa ra hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến QHTM song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI. Trong đó, nhóm yếu tố thúc đẩy QHTM giữa hai quốc gia bao gồm: tiềm lực về lao động, vốn, tài nguyên và công nghệ của mỗi quốc gia; cam kết tự do hóa thương mại trong khuôn khổ WTO; và cơ cấu thương mại giữa hai quốc gia có xu hướng mang tính bổ sung.
Ngược lại, nhóm yếu tố như sự phát triển của Trung Quốc (làm chệch hướng luồng vốn FDI vào thị trường Châu Á, trong đó có Hàn Quốc) và chiến lược ký kết FTA của Hàn Quốc nhằm gia tăng sự ưu tiên với những quốc gia khác [30]. Từ Thúy Anh & Đào Nguyên Thắng (2008), trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu, tác giả đã đưa ra ba nhóm yếu tố ảnh hưởng đến luồng thương mại. Thứ nhất, 12 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cung xuất khẩu, phản ánh năng lực sản xuất của nước xuất khẩu, bao gồm GDP và dân số của nước xuất khẩu. Thứ hai, nhóm yếu tố ảnh ảnh hưởng đến cầu nhập khẩu, thể hiện sức mua của thị trường nước nhập khẩu, bao gồm GDP và dân số của nước nhập khẩu.
Cuối cùng, nhóm yếu tố thu hút hay hạn chế QHTM, bao gồm chính sách của mỗi quốc gia trong việc thúc đẩy/ hay hạn chế luồng hàng hóa của quốc gia đối tác và khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia. Bằng phương pháp hồi quy OLS, tác giả cho rằng, QHTM song phương giữa Việt Nam và Asenan +3 chủ yếu là do cả GDP và GDP bình quân đầu người của Việt Nam và các quốc gia đối tác. Hai yếu tố này có tác động tích cực đến QHTM song phương (trong đó tác động của GDP mạnh hơn của GDP/người – điều này phản ánh luồng thương mại chịu ảnh hưởng bởi yếu tố cung nhiều hơn so với yếu tố cầu) [142]. Đinh Thị Thanh Bình & cộng sự (2014), đã đánh giá các yếu tố đến kim ngạch thương mại song phương của Việt Nam với 60 quốc gia đối tác trong giai đoạn 2000 – 2010.
Nghiên cứu cho thấy, GDP của Việt Nam; GDP của nước đối tác có tác động tích cực đến dòng thương mại song phương giữa các quốc gia, trong đó GDP của nước ngoài có tác động lớn hơn. Bên cạnh đó, quy mô dân số Việt Nam; quy mô dân số nước ngoài và FTA cũng có tác động thúc đẩy đến tổng giá trị thương mại song phương. Khoảng cách địa lý và khoảng cách văn hóa là 2 yếu tố cũng có ảnh hưởng đến TMQT. Nếu khoảng cách địa lý là yếu tố cản trở thương mại thì khoảng cách văn hóa là yếu tố thu hút thương mại song phương.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tỷ giá hối đoái là yếu tố tác động cùng chiều đến thương mại song phương, nhưng ở mức độ không đáng kể [65]. (2015), đã nghiên cứu dòng chảy thương mại song phương giữa Cameroon với 28 quốc gia Liên minh châu Âu. Các phát hiện từ nghiên cứu cho thấy, quy mô kinh tế và GDP bình quân đầu người có tác động tích cực, trong khi đó, khoảng cách giữa các đối tác có tác động tiêu cực đến thương mại giữa Cameroon với các quốc gia EU. Cụ thể, khi GDP của hai quốc gia tăng 1% thì quy mô thương mại song phương tăng 1,2808%, trong khi đó, khoảng cách tăng 1% dẫn đến giảm quy mô thương mại song phương là 2,0306%.