Luận văn: Quan hệ thương mại Việt Nam - Campuchia sau gia nhập WTO

Luận văn: Quan hệ thương mại Việt Nam - Campuchia sau WTO. Phân tích tác động, cơ hội và thách thức trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Chuyên ngành

Kinh Tế Đối Ngoại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2012

97
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

Danh mục hình

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3.1. Mục đích nghiên cứu

1.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ thương mại Việt Nam-Campuchia

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Những đóng góp mới của luận văn

1.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-CAMPUCHIA

1.1. Cơ sở lý luận của quan hệ thương mại Việt Nam-Campuchia

1.1.1. Thương mại quốc tế và một số lý thuyết cơ bản về thương mại quốc tế

1.1.2. Lợi ích của các quốc gia khi tham gia thương mại quốc tế

1.2. Cơ sở thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam-Campuchia

1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của Campuchia

1.2.2. Khái quát mối quan hệ Việt Nam-Campuchia

1.2.3. Các nhân tố chi phối quan hệ thương mại Việt Nam-Campuchia

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM- CAMPUCHIA

2.1. Chính sách thương mại giữa Việt Nam- Campuchia và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định chính sách thương mại Việt Nam- Campuchia

2.1.1. Khái quát chính sách thương mại giữa Việt Nam và Campuchia

2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định chính sách thương mại Việt Nam – Campuchia

2.2. Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam-Campuchia

2.2.1. Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Campuchia

2.2.2. Nhập khẩu của Việt Nam từ Campuchia

2.2.3. Xuất nhập khẩu dịch vụ

2.3. Đánh giá chung quan hệ thương mại Việt Nam-Campuchia

2.3.1. Một số thành tựu đạt được

2.3.2. Những hạn chế

3. CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-CAMPUCHIA

3.1. Triển vọng thương mại Việt Nam-Campuchia trong thời gian tới

3.1.1. Triển vọng của thị trường Campuchia

3.1.2. Triển vọng của thị trường Việt Nam

3.2. Một số giải pháp thúc đẩy phát triển thương mại Việt Nam- Campuchia

3.2.1. Hoàn thiện khung pháp lý, cải cách thủ tục hành chính liên quan

3.2.2. Xúc tiến công tác đầu tư, nâng cao chất lượng, đa dạng hoá các mặt hàng xuất nhập khẩu của hai nước

3.2.3. Chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ thương mại song phương, chống buôn lậu, giữ vững quốc phòng an ninh biên giới

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quan Hệ Thương Mại Việt Nam Campuchia WTO

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Campuchia là một yếu tố quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Hai quốc gia láng giềng này có mối liên kết lịch sử, văn hóa và địa lý sâu sắc, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển thương mại song phương. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), quan hệ thương mại giữa hai nước đã có những thay đổi đáng kể, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức. Bài viết này sẽ đi sâu vào phân tích thực trạng, triển vọng và các giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Campuchia trong bối cảnh mới. Việc phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam- Campuchia để tìm ra những giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại của hai nước là hết sức cần thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Việc nghiên cứu đề tài: “Quan hệ thương mại Việt Nam – Campuchia sau khi Việt Nam gia nhập WTO” làm luận văn tốt nghiệp không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn góp phần nâng tầm quan hệ ngoại giao của hai nước, xây đắp tình hữu nghị bền lâu của hai quốc gia láng giềng. Với vị trí của hai nước gần gũi về địa lý, có nhiều nét tương đồng về văn hoá thì thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Campuchia đã được hình thành từ khá sớm. Tuy nhiên cho đến những năm gần đây thì quan hệ thương mại hai nước mới thực sự khởi sắc.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Thương Mại Việt Nam Campuchia

Thương mại giữa Việt Nam và Campuchia đã hình thành từ lâu đời, dựa trên sự trao đổi hàng hóa qua biên giới. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ thương mại song phương chỉ thực sự bắt đầu từ những năm gần đây, sau khi cả hai nước thực hiện các chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế. Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Campuchia được chính thức thiết lập từ năm 1967, qua 45 năm ấy đã có nhiều dấu ấn nhưng nhìn chung ngày càng được thắt chặt, củng cố trên nhiều phương diện. Với những tiền đề đó, quan hệ thương mại Việt Nam-Campuchia không ngừng tăng mạnh, đặc biệt là trong khoảng 5 năm trở lại đây, cụ thể là trong năm 2006 giá trị thương mại hai chiều của Việt Nam và Campuchia chỉ là 950 triệu USD thì đến năm 2008 là 1,7 tỷ USD và năm 2011 là 2,8 tỷ USD.

1.2. Ý Nghĩa Quan Hệ Thương Mại Việt Nam Campuchia

Phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Campuchia không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế mới hiện nay. Sự hợp tác kinh tế giúp củng cố mối quan hệ hữu nghị và tin cậy giữa hai quốc gia, góp phần vào ổn định và phát triển khu vực. Bên cạnh đó cũng có một số cuốn sách có đề cập đến một vài vấn đề liên quan đến đề tài này có thể kể đến là: Nguyễn Trần Quế (2007): Hợp tác phát triển tiểu vùng Mê Công mở rộng hiện tại và tương lai, Nhà xuất bản Khoa học xã hội; Phạm Đức Thành (chủ biên, 2007): Liên kết ASEAN trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á; Nguyễn Hồng Sơn (chủ biên): Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Nội dung và lộ trình, NXB KHXH, năm 2009; Nguyễn Duy Dũng (chủ biên, 2012) : Việt Nam-Lào-Campuchia Hợp tác hữu nghị và phát triển, nhà xuất bản thông tin và truyền thông. Các bài viết, tham luận hội thảo, diễn đàn, sách… đã công bố nhìn chung chưa thực sự đánh giá một cách hệ thống toàn diện, sâu rộng, chi tiết về đề tài cần nghiên cứu. Tuy nhiên, đây cũng là một trong những nguồn thông tin, tư liệu tham khảo hết sức quan trọng cho việc thực hiện luận văn này.

II. Tác Động Của WTO Đến Thương Mại Việt Nam Campuchia

Việc Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong chính sách thương mại và môi trường kinh doanh của đất nước. Điều này có tác động trực tiếp và gián tiếp đến quan hệ thương mại với Campuchia, thể hiện qua việc mở rộng thị trường, giảm thiểu các rào cản thương mại và thúc đẩy sự cạnh tranh. Các quốc gia càng tham gia sâu rộng vào hội nhập kinh tế thế giới thì thương mại quốc tế càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, các hình thức thương mại quốc tế có thể kể đến là xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, gia công thuê nước ngoài và thuê nước ngoài gia công, tái xuất khẩu và chuyển khẩu, xuất khẩu tại chỗ. Nhìn chung hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ chiếm vai trò chủ đạo trong thương mại quốc tế của mỗi quốc gia. Gia công thuê cho nước ngoài có hạn chế là chu kỳ ngắn nhưng lại phù hợp với các nước đang phát triển với lợi thế nhân công dồi dào, giá rẻ. Trong khi đó hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà chỉ có các dịch vụ phát sinh, đi kèm như vận tải quá cảnh, bảo quản, lưu kho bãi….Đối với những nhà xuất khẩu không có ưu thế về hệ thống vận tải, kho bãi… thì xuất khẩu tại chỗ là một lựa chọn tối ưu nhằm thu hồi vốn nhanh mà vẫn thu được ngoại tệ.

2.1. Thay Đổi Chính Sách Thương Mại Sau Gia Nhập WTO

Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã thực hiện nhiều cam kết về mở cửa thị trường, cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ các biện pháp phi thuế quan. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa từ Campuchia tiếp cận thị trường Việt Nam và ngược lại. Thứ nhất, hoạt động thương mại quốc tế ra đời với mục đích cơ bản là buôn bán nhằm kiếm chênh lệch về giá cả hay còn gọi là kiếm lời. Đây là hoạt động tất yếu khách quan trong kinh tế nói chung với việc phân bổ hàng hoá, dịch vụ từ chỗ có giá thấp đến chỗ có giá cao hơn. Cho dù thế giới ngày nay đang có xu hướng “phẳng”, nền kinh tế các nước đang hội nhập sâu rộng thì sự chênh lệch về giá cả của các mặt hàng giữa các quốc gia vẫn luôn có cơ hội tồn tại, do vậy, thương mại quốc tế luôn phát triển để đáp ứng quy luật khách quan của thế giới.

2.2. Tác Động Đến Xuất Nhập Khẩu Hàng Hóa Việt Nam Campuchia

Gia nhập WTO đã giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và Campuchia trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng sản phẩm, quy trình sản xuất và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Do thị hiếu của người tiêu dùng mỗi quốc gia về cơ bản là khác nhau nên nhu cầu về hàng hoá cũng khác nhau. Ví dụ như Nhật Bản là một “quốc đảo” với diện tích biển lớn, có nhiều sông ngòi sẽ có nhiều loại thuỷ hải sản. Tuy nhiên, một bộ phận người Nhật lại rất thích cá da trơn của Việt Nam. Do vậy, sẽ hình thành một mạng lưới chuyên cung cấp cá tra, cá basa… từ Việt Nam nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của người Nhật. Như vậy chính sở thích về cá da trơn của người Nhật đã quyết định việc hình thành và phát triển kênh phân bổ các da trơn giữa Việt Nam và Nhật.

III. Cơ Hội Thách Thức Trong Thương Mại Việt Nam Campuchia

Quan hệ thương mại Việt Nam - Campuchia sau WTO mang lại nhiều cơ hội lớn, bao gồm mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và tăng cường hợp tác kinh tế. Tuy nhiên, cũng tồn tại không ít thách thức, như cạnh tranh gay gắt, rào cản kỹ thuật và hạn chế về cơ sở hạ tầng. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không hội tụ đủ các nguồn tài nguyên và các nguồn lực khác để sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá. Nếu quốc gia nào đó có thể sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá thì chắc chắn chi phí cũng rất cao, không hiệu quả. Do vậy, các nước phải tiến hành trao đổi hàng hoá với nhau thông qua thương mại quốc tế. Như vậy, các hoạt động của thương mại quốc tế dựa trên phân công lao động giữa các quốc gia, cho phép mỗi nước có thể phát huy tối đa lợi thế của mình và lực lượng sản xuất của thế giới sẽ được khai thác một cách có hiệu quả hơn. Nói tóm lại thương mại quốc tế hình thành là một quy luật tất yếu khách quan do sự khác nhau về giá cả của hàng hoá, do phân công lao động quốc tế với mục đích phát huy tối đa, hiệu quả nguồn lực của mỗi quốc gia cũng như nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng của mỗi nước.

3.1. Mở Rộng Thị Trường Thu Hút Đầu Tư Song Phương

Việc giảm thiểu các rào cản thương mại và tạo môi trường đầu tư thuận lợi đã giúp mở rộng thị trường cho hàng hóa và dịch vụ của cả Việt Nam và Campuchia. Đồng thời, thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài khu vực. Với những thuận lợi về địa kinh tế, gần gũi về mặt tự nhiên, tương đồng về văn hoá thì Việt Nam và Campuchia chắc chắn sẽ có nhiều lợi ích trong việc phát triển hơn nữa quan hệ thương mại song phương, góp phần không nhỏ thắt chặt mối quan hệ hữu nghị láng giềng giữa hai nước.

3.2. Cạnh Tranh Rào Cản Thương Mại Cần Vượt Qua

Cạnh tranh từ các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới là một thách thức lớn đối với cả Việt Nam và Campuchia. Bên cạnh đó, các rào cản kỹ thuật, quy định về chất lượng sản phẩm và thủ tục hành chính phức tạp cũng gây khó khăn cho hoạt động thương mại. Cũng từ đó, nền kinh tế của các quốc gia cũng sẽ được phân công hợp lý, hướng tới sự chuyên môn hóa cao đối với các mặt hàng cụ thể. Thương mại quốc tế trong một số trường hợp không chỉ đơn thuần là mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ mà còn là cả một quá trình học hỏi, chuyển giao công nghệ. Thông qua các hoạt động thương mại, các nhà cung cấp có thể chuyển giao bí quyết sản xuất, kinh nghiệm quản lý cho đối tác nước ngoài với những điều kiện mà cả hai bên đều có lợi.

IV. Giải Pháp Phát Triển Quan Hệ Kinh Tế Việt Nam Campuchia

Để thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Campuchia sau WTO, cần có các giải pháp đồng bộ từ phía chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan. Các giải pháp này tập trung vào việc hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển cơ sở hạ tầng và tăng cường xúc tiến thương mại. Thương mại quốc tế góp phần cơ bản trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập của người lao động, giải quyết việc làm cho nhân dân, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có nguồn lao động dồi dào như Việt Nam và Campuchia. Đối với Việt Nam có thể thấy rất rõ qua ngành may mặc và sản xuất da giày. Đây là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực trong những năm gần đây, thu về nhiều ngoại tệ cho quốc gia, góp phần giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động, giúp nâng cao đời sống của người dân, ổn định xã hội. Lợi ích của thương mại quốc tế không chỉ là lợi nhuận từ việc xuất khẩu hàng hóa dịch vụ mà còn là những tiện ích trong việc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước thông qua nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ quốc tế.

4.1. Hoàn Thiện Khung Pháp Lý Cải Cách Thủ Tục

Việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý minh bạch, đồng bộ và phù hợp với các quy định của WTO là rất quan trọng. Đồng thời, cần cải cách thủ tục hành chính để giảm thiểu chi phí và thời gian cho các doanh nghiệp. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây hàng hóa nhập khẩu cũng đang đóng góp tích cực vào quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở những mức độ khác nhau. Việt Nam và Campuchia vừa kỷ niệm 45 năm chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, trong quãng thời gian ấy đã có nhiều dấu ấn lịch sử đáng nhớ, với các giai đoạn đấu tranh và phát triển của hai nước. Trong thời kỳ Việt Nam tiến hành kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, Campuchia đã có quan hệ tốt với các lực lượng Cách mạng Việt Nam, ủng hộ công cuộc thống nhất đất nước của Việt Nam.

4.2. Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Cho Doanh Nghiệp

Doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và phát triển nguồn nhân lực. Trong khoảng 20 năm trở lại đây, quan hệ Việt Nam-Campuchia không ngừng được củng cố và phát triển về mọi mặt. Lãnh đạo 2 nước đã có nhiều chuyến thăm chính thức cấp cao, vào 3/2005, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã có chuyến thăm chính thức Campuchia và hai bên đã thống nhất phương châm phát triển quan hệ hai nước theo hướng “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyển thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Sau đó, tháng 10 năm 2005. Thủ tướng Hun Sen cũng đã có chuyến thăm chính thức Việt Nam với những cam kết, thỏa thuận giữa hai nước nhằm nâng tầm hơn nữa quan hệ giáng giềng.

V. Thực Trạng Xuất Nhập Khẩu Hàng Hóa Việt Nam Campuchia

Quan hệ xuất nhập khẩu của Việt Nam sang Campuchia luôn chênh lệch nhau rất lớn. Việt Nam luôn xuất siêu sang Campuchia một cách áp đảo. Điều đó được thể hiện rõ vào các năm 2006 – 2011. Đặc biệt là năm 2008, Việt Nam xuất khẩu sang Campuchia 1.430,656 triệu USD, gấp gần 7 lần kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Campuchia. Điều này thể hiện rõ ở hai quốc gia láng giềng. Tốc độ tăng thị phần thị trường Campuchia luôn cao hơn tốc độ tăng thị phần của ASEAN nói chung. Rõ ràng Campuchia là một thị trường xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam.1: Xuất nhập khẩu của Việt Nam vào Campuchia đang có chiều hướng phát triển vượt trội

5.1. Quy Mô Xu Hướng Hiện Tại Về Tốc Độ

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Campuchia tăng mạnh trong giai đoạn 2000 – 2007, đạt gần 30%/năm. Đặc biệt là bắt đầu từ năm 2002, một loạt các cuộc viếng thăm của lãnh đạo hai nước đã giúp quan hệ thương mại được cải thiện rõ rệt, thể hiện ở tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ 2002 đến 2007. Có sự tăng vọt ấn tượng trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Campuchia vào năm 2008, đánh dấu kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam lên gần 1,5 tỷ USD. Tuy nhiên đến năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên kim ngạch xuất khẩu đã giảm xuống còn 1,147 tỷ USD, tổng kim ngạch kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Campuchia lần đầu tiên trong lịch sử đạt giá trị âm (-18,7%).

5.2. Cán Cân Thương Mại Các Mặt Hàng Chủ Lực

Hiện tại, Campuchia là thị trường xuất khẩu lớn thứ 16 của Việt Nam và Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ 4 vào Campuchia (sau Thái Lan, Trung Quốc và Hồng Kông). Trên thực tế, có ba nước duy nhất trong Đông Nam Á mà Việt Nam xuất siêu đó là Campuchia, Đông Timor và Bruney, thì Campuchia luôn là nước Việt Nam xuất siêu nhiều nhất.5: Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Campuchia 2009-2010. Chúng ta có thể thấy những mặt hàng chính mà Việt Nam xuất khẩu sang Campuchia là những mặt hàng mà nước ta có thế mạnh sản xuất và xuất khẩu như hàng nông sản, thực phẩm chế biến, các mặt hàng công nghiệp nhẹ. Điều này cũng có nghĩa là thị trường Campuchia còn rất tiềm năng, các nhà sản xuất của Việt Nam hoàn toàn có thể tiến xa hơn trong tương lai.

VI. Tương Lai Quan Hệ Thương Mại Việt Nam Campuchia FTA

Với những nỗ lực không ngừng từ cả hai phía, quan hệ thương mại Việt Nam - Campuchia hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Các hiệp định thương mại tự do (FTA) và sự hợp tác khu vực sẽ tạo động lực mới cho sự tăng trưởng và bền vững của quan hệ kinh tế song phương. Tóm lại, mối quan hệ Việt Nam-Campuchia đã có một bề dày lịch sử với đặc trưng cơ bản là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”. Trong những năm gần đây, quan hệ giữa hai nước không ngừng được củng cố và phát triển một cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, trong quan hệ thương mại song phương, từ khi cả Việt Nam (năm 2007) và Campuchia (năm 2004) đều trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới đã thực sự tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng. Những yếu tố này cho phép Chính phủ hai nước hy vọng vào một tương lai sáng sủa cho quan hệ Việt Nam-Campuchia nói chung và quan hệ thương mại giữa hai nước nói riêng.

6.1. Triển Vọng Tăng Trưởng Kinh Tế Song Phương

Sự tăng trưởng kinh tế của cả Việt Nam và Campuchia sẽ tạo ra nhu cầu lớn hơn về hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩy thương mại song phương phát triển. Hơn nữa, với quan hệ chính trị tốt đẹp và sự hợp tác chặt chẽ, hai nước có thể tận dụng tối đa các cơ hội để phát triển kinh tế. Với những điều kiện thuận lợi như vậy, chắc chắn trong thời gian tới Campuchia sẽ cải thiện được tỷ lệ nhập siêu với Việt Nam, góp phần nâng tầm quan hệ thương mại giữa hai nước. Tóm lại, mối quan hệ Việt Nam-Campuchia đã có một bề dày lịch sử với đặc trưng cơ bản là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”.

6.2. Vai Trò Của FTA Hợp Tác Khu Vực Trong Tương Lai

Các FTA và các khuôn khổ hợp tác khu vực như ASEAN sẽ tạo ra môi trường thương mại tự do và minh bạch hơn, giúp tăng cường quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Campuchia. Đồng thời, mở ra cơ hội hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác như đầu tư, du lịch và phát triển nguồn nhân lực. Trong những năm gần đây, quan hệ giữa hai nước không ngừng được củng cố và phát triển một cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, trong quan hệ thương mại song phương, từ khi cả Việt Nam (năm 2007) và Campuchia (năm 2004) đều trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới đã thực sự tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng.

28/09/2025
Luận văn quan hệ thương mại việt nam campuchia sau khi việt nam tham gia tổ chức thương mại thế giới wto

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-CAMPUCHIA 1. Cơ sở lý luận của quan hệ thương mại Việt Nam-Campuchia 1.1 Thương mại quốc tế và một số lý thuyết cơ bản về thương mại quốc tế 1.1 Khái niệm và đặc điểm của thương mại quốc tế Trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay thì thương mại quốc tế là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển của các nền kinh tế. Thương mại quốc tế đã được manh nha và phát triển từ xa xưa với những dấu ấn rõ nét qua Con đường tơ lụa, Con đường hổ phách…. Tuy nhiên, mãi đến những thế kỷ gần đây, thương mại quốc tế mới thực sự phát huy vai trò, góp phần vô cùng quan trọng đối với sự phồn thịnh của thế giới.

Thương mại (trade) theo nghĩa cơ bản nhất là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các bên. Thương mại quốc tế hình thành khi việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ được thực hiện qua biên giới các quốc gia. Như vậy, về cơ bản, thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia với nhau. Trong thế giới hiện đại, thương mại quốc tế gắn liền với việc sử dụng các đồng tiền thanh toán khác nhau nên tỷ giá hối đoái và thanh toán quốc tế là những vấn đề liên quan mật thiết.

Ngoài ra, thuế quan, các rào cản thương mại khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến thương mại quốc tế. Tuỳ vào điều kiện, tình hình kinh tế của mỗi nước mà từng quốc gia sẽ có chính sách thương mại quốc tế phù hợp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các quốc gia càng tham gia sâu rộng vào hội nhập kinh tế thế giới thì thương mại quốc tế càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, các hình thức thương mại quốc tế có thể kể đến là xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, gia công thuê nước ngoài và thuê nước ngoài gia 6 công, tái xuất khẩu và chuyển khẩu, xuất khẩu tại chỗ.

Nhìn chung hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ chiếm vai trò chủ đạo trong thương mại quốc tế của mỗi quốc gia. Gia công thuê cho nước ngoài có hạn chế là chu kỳ ngắn nhưng lại phù hợp với các nước đang phát triển với lợi thế nhân công dồi dào, giá rẻ. Trong khi đó hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà chỉ có các dịch vụ phát sinh, đi kèm như vận tải quá cảnh, bảo quản, lưu kho bãi….Đối với những nhà xuất khẩu không có ưu thế về hệ thống vận tải, kho bãi… thì xuất khẩu tại chỗ là một lựa chọn tối ưu nhằm thu hồi vốn nhanh mà vẫn thu được ngoại tệ. Tuy nhiên, tuỳ vào lợi thế, giai đoạn của mỗi nước mà các hình thức khác của thương mại quốc tế sẽ được áp dụng, cũng góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của các nước.2 Nguyên nhân hình thành thương mại quốc tế Thương mại quốc tế về cơ bản là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia.

Về mặt lý thuyết, các nước tham gia thương mại quốc tế đều đạt được những lợi ích nhất định. Vậy những nguyên nhân, mục đích cơ bản của việc hình thành thương mại quốc tế là gì? Thứ nhất, hoạt động thương mại quốc tế ra đời với mục đích cơ bản là buôn bán nhằm kiếm chênh lệch về giá cả hay còn gọi là kiếm lời. Đây là hoạt động tất yếu khách quan trong kinh tế nói chung với việc phân bổ hàng hoá, dịch vụ từ chỗ có giá thấp đến chỗ có giá cao hơn. Cho dù thế giới ngày nay đang có xu hướng “phẳng”, nền kinh tế các nước đang hội nhập sâu rộng thì sự chênh lệch về giá cả của các mặt hàng giữa các quốc gia vẫn luôn có cơ hội tồn tại, do vậy, thương mại quốc tế luôn phát triển để đáp ứng quy luật khách quan của thế giới.

Thứ hai, sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành thương mại quốc tế. Do thị hiếu của người tiêu dùng mỗi quốc gia về cơ bản là khác nhau nên nhu cầu về hàng hoá cũng khác nhau. Ví dụ như 7 Nhật Bản là một “quốc đảo” với diện tích biển lớn, có nhiều sông ngòi sẽ có nhiều loại thuỷ hải sản. Tuy nhiên, một bộ phận người Nhật lại rất thích cá da trơn của Việt Nam.

Do vậy, sẽ hình thành một mạng lưới chuyên cung cấp cá tra, cá basa… từ Việt Nam nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của người Nhật. Như vậy chính sở thích về cá da trơn của người Nhật đã quyết định việc hình thành và phát triển kênh phân bổ các da trơn giữa Việt Nam và Nhật. Khi đời sống của người dân càng cao thì sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng càng có vai trò quan trọng trong việc các nhà sản xuất quyết định sản xuất cái gì, phân bổ ở thị trường nào. Thứ ba, sự khác nhau về các nguồn lực và trình độ sử dụng các nguồn lực cũng là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành thương mại quốc tế.

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không hội tụ đủ các nguồn tài nguyên và các nguồn lực khác để sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá. Nếu quốc gia nào đó có thể sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá thì chắc chắn chi phí cũng rất cao, không hiệu quả. Do vậy, các nước phải tiến hành trao đổi hàng hoá với nhau thông qua thương mại quốc tế. Như vậy, các hoạt động của thương mại quốc tế dựa trên phân công lao động giữa các quốc gia, cho phép mỗi nước có thể phát huy tối đa lợi thế của mình và lực lượng sản xuất của thế giới sẽ được khai thác một cách có hiệu quả hơn.

Nói tóm lại thương mại quốc tế hình thành là một quy luật tất yếu khách quan do sự khác nhau về giá cả của hàng hoá, do phân công lao động quốc tế với mục đích phát huy tối đa, hiệu quả nguồn lực của mỗi quốc gia cũng như nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng của mỗi nước. Về cơ bản, tất cả các nước khi tham gia thương mại quốc tế đều đạt được những lợi ích nhất định.3 Khái quát một số lý thuyết về thương mại quốc tế làm cơ sở phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Campuchia Một số tư tưởng, quan điểm của các nhà kinh tế đã xuất hiện khá sớm, tuy nhiên, chỉ đến khi cuốn “Của cải của các dân tộc” của Adam Smith xuất bản năm 1776 thì kinh tế học quốc tế nói chung và lý thuyết thương mại quốc tế nói riêng mới thực sự trở thành một môn khoa học hoàn chỉnh. Trong giai đoạn này, các nước Châu Âu theo đuổi quan điểm của chủ nghĩa trọng thương với nội dung cơ bản: - Coi tiền tệ là của cải, các quốc gia muốn giàu có thì phải tìm cách gia tăng khối lượng tiền tệ, nước nào có nhiều vàng bạc, tiền tệ thì nước đó càng giàu có - Phát triển ngoại thương được coi là phương thức chủ yếu trong việc gia tăng khối lượng tiền tệ của một nước, như vậy buôn bán với nước ngoài được các quốc gia trong giai đoạn này đặc biệt coi trọng trong chính sách thương mại quốc tế. - Mặc dù cổ vũ cho buôn bán với nước ngoài nhưng các nước vẫn đề cao vai trò điều tiết của nhà nước, một số nước còn thực hiện chính sách bảo bộ, hạn chế nhập khẩu.

Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng thương vẫn còn đơn giản, chưa thực sự giải thích được bản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith ra đời góp phần khắc phục những hạn chế này. Adam Smith đã phân tích một cách sâu sắc và có hệ thống nguồn gốc và lợi ích của thương mại quốc tế, theo ông sản xuất tạo ra giá trị chứ không phải là lưu thông. Ông cho rằng một quốc gia có hiệu quả hơn trong việc sản xuất một mặt hàng nhưng lại ít hiệu quả hơn so với quốc gia khác trong việc sản xuất mặt hàng còn lại, do vậy một nước sẽ tập trung sản xuất mặt hàng có hiệu quả hơn và nhập khẩu mặt hàng ít hiệu quả hơn.

Lý thuyết của Adam 9 Smith chỉ ra rằng thương mại quốc tế có lợi cho cả hai quốc gia với việc phát huy chuyên môn hoá. Lý thuyết của David Ricardo tiến hành phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai loại sản phẩm trong điều kiện thương mại quốc tế hoàn toàn tự do, không có rào cản thương mại, cùng với các giả định khác như: chi phí sản xuất là cố định; các yếu tố sản xuất chỉ di chuyển trong phạm vi một quốc gia; không có chi phí vận chuyển; công nghệ của hai quốc gia là như nhau; dựa trên lý thuyết tính giá trị bằng lao động. Dựa trên những giả định đó, David Ricardo cho rằng nếu một quốc gia kém hiệu quả hơn (bất lợi thế tuyệt đối) so với quốc gia khác trong việc sản xuất cả hai loại hàng hoá thì thương mại vẫn xảy ra và đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia. Một nước nên chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu hàng hoá mà nước đó có lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) và nhập khẩu hàng hoá mà nước đó không có lợi thế so sánh.Ricardo đã đặt nền tảng cho thương mại quốc tế trong giai đoạn này và được coi là lý thuyết quan trọng nhất của kinh tế quốc tế.

David Ricardo đã chỉ ra cơ sở khoa học của thương mại quốc tế là sự khác biệt về lợi thế tương đối trong sản xuất một loại hàng hoá nào đó. Ngoài ra, lý thuyết lợi thế so sánh đã khắc phục được hạn chế của lợi thế tuyệt đối của Adam Smith đưa ra, đó là lý thuyết này đã giải thích được tất cả các nước đều có lợi khi tham gia thương mại quốc tế kể cả trong trường hợp một nước không có lợi thế tuyệt đối về nhiều mặt hàng, do đó, lý thuyết của David Ricardo mang tính khái quát hơn. Căn cứ vào lý thuyết lợi thế so sánh, một quốc gia sẽ chuyên môn hoá vào sản xuất loại hàng hoá mà quốc gia có lợi 1 thế so sánh chứ không phải căn cứ vào lợi thế tuyệt đối. Đối với quan hệ thương mại Việt Nam và Campuchia thì lợi thế so sánh được thể hiện khá rõ nét.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ