mở đầu việc xâm chiếm Malaysia, một năm sau Malaysia lần lượt bị Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh xâm chiếm. Philippin cũng bị Tây Ban Nha dần dần thôn tính từ giữa thế kỷ 16. Indonesia cũng bị Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan xâu xé và vào năm 1811, Hà Lan độc chiếm được nước này. Singapo thì bị Anh chiếm vào năm 1824, Anh thành lập “đất thuộc địa e o biển” , sáp nhập Singapo vào lãnh thổ của Anh.
Tại Miến Điện, 7 T3 1 7 T3 1 thực dân Anh đã tiến hành ba cuộc chiến tranh vào các năm 1824 - 1826, 1826 -1853 và 7 T3 6 7 T3 6 1885 để thôn tính đất nước này. Sau khi chiếm Miến, Anh tiếp lục thôn tính Brunei. 7 T3 6 7 T3 6 Thực dân Pháp thì tìm cách vào Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia). T 7 3 16 Như vậy vào thế kỷ 19 các nước tư bản Âu - Mỹ đã kỹ nghệ hóa và thị trường châu Mỹ, T 7 3 2 T4 7 3 2 T4 7 3 7 T3 6 7 T3 6 2 T4 7 3 2 T4 7 3 châu Âu đã được phân chia ổn định nên các nước tư bản chỉ còn cách tìm đường sang các đại lục khác.
Đầu tiên tư bản tìm cách bành trướng vế kinh tế (expansion fínancière), rồi tiến đến đô hộ chính trị, chiếm thuộc địa và lập khu vực ảnh hưởng kinh tế (zone d' influence 7 T3 6 7 T3 6 7 T3 6 7 T3 6 7 T3 6 économique. Để đạt được mục đích đó, giai cấp tư sản đã quét sạch mọi trở ngại, mở con 7 T3 6 7 T3 6 7 T3 6 đường khai thông từ Ân sang Á bằng những cuộc chiến tranh đẫm máu. 7 T3 6 Trong thế kỷ 19, Đông Nam Á đã trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương T 7 3 T7 3 1 T7 3 1 Tây. Tại khu vực này chỉ có nước Xiêm La vẫn giữ được độc lập về chính trị.
Thực chất Xiêm 2 T4 7 3 2 T4 7 3 chỉ độc lập về mặt hình thức, bởi bị ràng buộc hàng một loạt các hiệp ước bất bình đẳng được ký với Anh, Pháp, Hà Lan, Hoa Kỳ, Nhật, Đức. Trong bối cảnh của cả khu vực như vậy, Việt Nam không thể đứng ngoài những biến T 7 3 động chính trị mà tư bản phương Tây tạo nên trong quá trình tìm kiếm thuộc địa và khu vực 7 T3 6 7 T3 6 ảnh hưởng. Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực mà thực dân Pháp ráo riết tìm cách T 7 3 đặt ách thống trị, đặc biệt là sau khi Pháp thất bại với Anh trong việc tranh giành quyền lợi trên bán đảo Ấn Độ từ cuối thế kỷ 18. Cũng như các quốc gia khác ở Đông Nam Á, Việt Nam không có điều kiện, khả năng đi T 7 3 7 T3 6 7 T3 6 theo con đường của Nhật Bản, hoặc ở trong hoàn cảnh như Xiêm La.
Giai cấp thống trị phong 2 T4 7 3 2 T4 7 3 kiến Việt Nam vào đầu thế kỷ 19 được lịch sử đặt ra những thử thách và chọn lựa vô cùng nghiệt ngã: giữ vững độc lập nước nhà hay để mất nước vào tay thực dân đế quốc. Trong bối cảnh lịch sử đó, các vua đầu triều Nguyễn đã có những cống hiến cũng như đã để lại những di 7 T3 6 7 T3 6 hại cho Tổ quốc. Tình hình Việt Nam nửa đầu thế kỷ 19: Việt Nam vào đầu thế kỷ 19 nằm dưới sự trị vì của vương triều Nguyễn. Lịch sử đã ghi T 7 3 7 T3 6 7 T3 6 nhận dưới triều Nguyễn Việt Nam là một nước thống nhất sau mấy trăm năm phân tranh, loạn lạc.
Triều Nguyễn đã xây dựng Việt Nam thành một nước có quy mô và gây được uy thế trong vùng. Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi, tái lập chế độ chuyên chế, từng bước xây dựng và củng cố hệ thống cai trị. Triều Nguyễn được kiến thiết trong những hoàn cảnh hết sức khó 7 T3 6 7 T3 6 khăn, gian khổ, nên Gia Long khi lập đế nghiệp đã tận tâm, nổ lực, kiên trì và khôn khéo để ổn định chính sự, vỗ yên lòng dân, khôi phục kinh tế. Tuy nền quân chủ Việt Nam được phục hồi 17 trong cái xu thế tan rã chung của chế độ phong kiến trên thế giới từ đầu thế kỷ 17, nhưng bước đầu Gia Long cũng đã ổn định lại được tình hình đất nước ta sau gần 30 năm chiến tranh.
Về chính trị - xã hội, Gia Long đã thiết lập lại bộ máy c hính trị quân chủ, Vua là người T 6 7 T3 6 7 T3 6 7 T3 6 7 T3 6 7 T3 6 7 T3 6 7 T3 6 7 T3 6 T1 6 T1 6 T1 6 7 T3 1 đứng đầu nhà nước, có quyền lực vô hạn không một thứ quyền nào khống chế được. Mệnh lệnh nhà vua ban ra phải được thi hành triệt để như điều 60 bộ luật Gia Long tin quy định “ai nhận chế thư mà không thi hành sẽ bị tội đánh 100 trượng, nếu chậm thi hành thì bị tội xuy T7 3 1 T7 3 1 đánh mỗi ngày 50 roi”. Dưới nhà vua, có 6 Bộ: bộ Lại, bộ Hình, bộ Hộ, bộ Lễ, bộ Binh, bộ Công. Đứng đầu mỗi bộ là một vị quan chức thượng thư rồi đến các chức Tả, Hữu tham tri, Tả, Hữu thị Lang.
Ngoài ra có các cơ quan chuyên môn như: Đô sái viện, Hàn lâm viện, Thái y viện. Nhưng để tập trung quyền lực Gia Long đặt ra lệ “Tứ bất” (không đặt chức Tể tướng, không lấy Trạng nguyên, không lập Hoàng hậu, không phong tước vương cho người khác). Đến thời Minh Mạng, ông đặt thêm Cơ mật viện lấy 4 đại thần ở các bộ để cùng vua bàn bạc việc quân quốc quan trọng. Minh Mạng còn đặt Tôn Nhân Phủ để quản lý việc của Hoàng gia.
Quyền hành quốc gia tập trung vào vua một cách tuyệt đối, phản ánh quá trình tập trung quân chủ cao độ ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 19. Vua là thiên tử thay trời trị dân và trong hoàn cảnh 2 T4 7 3 2 T4 7 3 rối ren, mong manh của thời hậu chiến, việc tập trung quyền lực như là biện pháp nhằm thúc đẩy nhanh sự ổn định trong cả nước tuy nhiên sự tập trung quyền lực một cách tuyệt đối cũng đã tạo ra mội khoảng cách lớn giữa vua với dân chúng, khiến cho vua khó tiếp cận với dân tình. Về quản lý hành chánh, Gia Long sắp đặt cơ cấu hành chính căn bản. Đây là lần đầu tiên T 1 2 7 T3 1 2 ở nước ta các tổ chức hành chính được xếp đặt rất qui củ theo nguyên tắc tập trung.
Cả nước được chia thành 23 trấn 4 doanh. Từ Ninh Bình trở ra gọi là Bắc Thành, từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Định Thành. Cai quản Bắc Thành và Gia Định Thành là tổng trấn và phó tổng trấn. Miền Trung có kinh đô Huế chịu sự cai trị trực tiếp của Triều đình Huế.
Từ thời Minh Mạng trở đi, chế độ trung ương tập quyền được tăng cường, Bắc Thành và Gia Định Thành bị bãi bỏ, cả nước được chia thành 29 tỉnh, đồng thời vua còn đặt thêm chức quan ở miền núi nhằm ổn 2 T4 7 3 2 T4 7 3 định trật tự trong cả nước theo nguyên tắc chung, và điều này tạo nên sức mạnh cho hệ thống chính trị Việt Nam đầu thế kỷ 19. Theo tác giả của bộ “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” [95] thì hệ thống chính trị của T 7 3 Việt Nam dưới thời Nguyễn là quan liêu, độc đoán .Thực ra trong bối cảnh lịch sử Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, để thiết lập lại trật tự kỷ cương từ lâu bị xao lãng bởi 18 chiến tranh liên miên, cần phải có sự tập trung chuyên chính cao độ của nhà nước trung ương tập quyền. Điều cơ bản là những ông vua đầu triều Nguyễn đều chăm lo việc nước, có trách nhiệm với nước với dân. Theo John Barrow trong cuốn “Voyage à la Cohinchine” thì Gia Long là một vị vua chăm chỉ và mẫu mực về cần chính “sáng 6 giờ ông đã thức dậy và tắm nước lạnh, 7 giờ tiếp kiến các quan lại.
Đến trưa có khi một giờ ông mới ăn trưa và ăn tại hải xưởng. Hai giờ chiều ông mới về Cung ngủ đến 5 giờ.Sau đó ông lại tiếp các võ quan thủy bộ, các quan ký lục cai bạ, chấp thuận hay sửa chữa các dự án đề nghị. Các việc nước này làm ông bận rộn tới nửa đêm.Tóm lại, vua Gia Long trong 24 giờ một ngày chỉ nghỉ chừng 6 giờ” [140, 269]. Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cũng là những ông vua cần mẫn, chịu khó trong công việc trị nước.
Minh Mạng tự mình xem và phê duyệt tất cả những chương sở. “ Quốc 2 T4 7 3 2 T4 7 3 triều chính biên toát yếu” viết: “Ngài minh thận việc chính trị: phàm những chương sớ trong ngoài dâng lên, Ngài đều xem hết, việc thường, thời điện dụ cho các Nha, nghị chỉ phê phát, còn việc quan trọng thời phần nhiều Ngài nghị soạn lời chỉ, hoặc giao bản thảo, hoặc châu phê. Những tờ chỉ dụ triều đình mới có châu bản từ đây là đầu” [69, 108]. 2 T4 7 3 2 T4 7 3 Nhìn chung, các vua Nguyễn đã có những đóng góp nhất định trong các chính sách đối T 7 3 T7 3 1 T7 3 1 nội, nhằm thiết lập lại kỷ cương trật tự trong nước, ổn định chính sự và lòng người.
Gia Long khi mới đến Bắc hà đã ủy lạo, kêu gọi quan lại triều cũ, cùng nhân sĩ ra cống hiến tài năng cho việc xây dựng tổ quốc. Dụ của Gia Long viết: “ Buổi này là buổi dấy điều giao hảo và sửa việc chính trị, nhân tài ở đời, lẽ nào trọn đời bạn cùng cây cỏ. Vậy nên chuyển báo với nhau đến nơi hành tại trình tiền quân Nguyễn Văn Thành. đem vào yết kiến.
Trẫm sẽ xét lời nói, thử công việc, tùy tài bổ dụng, để cho người hiền kẻ tài có chức vị, hiệp ý bày mưu, giúp nên chánh đạo” [69, 49]. Để lấy lòng dân và tránh các vụ biến chính trị lấy danh nghĩa “phò Lê”, Gia Long phong cho con cháu nhà Lê là Lê Duy Hoán làm Diên Tự Công “cấp 1.016 tên từ phu, 100.000 7 T3 6 7 T3 6 mẫu tự điền, lại tha binh và thuế thân cho con cháu nhà Lê, cấp 500 mẫu tư điền cho họ Trịnh, khiến Trịnh Tư coi việc tế tự, lại tha binh diêu thuế thân cho 240 người con cháu họ Trịnh.