Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của ngoại giao trong bảo vệ đất nước dưới thời Trần thế kỷ XIII

Tài liệu chuyên sâu Vai trò của ngoại giao trong bảo vệ đất nước thời Trần thế kỷ XIII, phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc cho

Trường đại học

Đại Học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Khoa Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp
82
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NGOẠI GIAO ĐẠI VIỆT TRONG CÁC THỜI KỲ TRƯỚC NHÀ TRẦN

1.1. Khái niệm về ngoại giao

1.2. Ngoại giao nước ta trong các thời kì trước nhà Trần

1.2.1. Ngoại giao nước ta từ khi lập nước đến thế kỷ X

2. CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NGOẠI GIAO TRONG CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH, BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC DƯỚI THỜI TRẦN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Vai trò của ngoại giao trong bảo vệ đất nước

Ngoại giao đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ Trần thế kỷ XIII. Trong bối cảnh đất nước phải đối mặt với các cuộc xâm lược từ quân Nguyên - Mông, ngoại giao không chỉ là công cụ để duy trì hòa bình mà còn là phương tiện để củng cố an ninh quốc gia. Các vua Trần đã sử dụng ngoại giao như một phần không thể thiếu trong chiến lược bảo vệ độc lập dân tộc. Họ đã khéo léo kết hợp giữa sức mạnh quân sự và các biện pháp ngoại giao để đạt được mục tiêu bảo vệ lãnh thổ. Điều này thể hiện rõ qua các cuộc đàm phán, liên minh và các chiến lược đối ngoại nhằm làm giảm bớt áp lực từ kẻ thù. Như một câu nói nổi tiếng, "đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo", cho thấy rằng ngoại giao không chỉ là nghệ thuật mà còn là trách nhiệm của mỗi nhà lãnh đạo.

1.2. Tác động của ngoại giao đến an ninh quốc gia

Ngoại giao có tác động sâu sắc đến an ninh quốc gia trong thời kỳ Trần. Các chính sách ngoại giao khôn khéo đã giúp triều đình Trần giảm thiểu nguy cơ xung đột và tạo ra những khoảng thời gian hòa bình cần thiết để chuẩn bị cho các cuộc kháng chiến. Việc duy trì mối quan hệ tốt với các nước láng giềng không chỉ giúp bảo vệ lãnh thổ mà còn tạo ra những cơ hội hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Ngoại giao cũng giúp nâng cao vị thế của Đại Việt trên trường quốc tế, khẳng định quyền tự chủ và độc lập của dân tộc. Điều này thể hiện rõ qua các cuộc đàm phán thành công, giúp triều đình Trần có được sự ủng hộ từ các nước khác trong cuộc chiến chống quân Nguyên - Mông.

II. Những bài học từ ngoại giao thời Trần

Ngoại giao thời Trần để lại nhiều bài học quý giá cho các thế hệ sau. Một trong những bài học quan trọng nhất là sự cần thiết phải kết hợp giữa sức mạnh quân sự và ngoại giao. Trong bối cảnh đất nước bị xâm lược, việc sử dụng ngoại giao như một công cụ để bảo vệ độc lập dân tộc là rất cần thiết. Ngoại giao không chỉ giúp giảm thiểu xung đột mà còn tạo ra những cơ hội hợp tác và phát triển. Bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện đại, khi mà các quốc gia phải đối mặt với nhiều thách thức từ bên ngoài. Ngoại giao cần được coi là một phần không thể thiếu trong chiến lược bảo vệ đất nước, giúp duy trì hòa bình và ổn định.

2.2. Nghệ thuật đàm phán

Nghệ thuật đàm phán là một trong những kỹ năng quan trọng mà các nhà lãnh đạo cần phải có. Trong thời kỳ Trần, các vua đã thể hiện khả năng đàm phán xuất sắc, giúp đạt được những thỏa thuận có lợi cho đất nước. Việc sử dụng ngoại giao như một công cụ để giải quyết xung đột không chỉ giúp bảo vệ lãnh thổ mà còn tạo ra những cơ hội phát triển. Bài học này cho thấy rằng, trong mọi tình huống, việc tìm kiếm giải pháp hòa bình thông qua đàm phán là rất cần thiết. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu tổn thất mà còn tạo ra những cơ hội hợp tác trong tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của chiến tranh xâm lược. Triều Tiền Lê - Quan hệ với nhà Tống: Về ngoại giao, Lê Hoàn cũng rất khôn khéo và cứng rắn, nên người Tống càng e ngại, dè dặt. Họ nhìn nhận Lê Hoàn như một nhân vật thật sự kiên cường, dũng mãnh, không biết sợ là gì, có thể làm những việc kinh thiên động địa. Đúng là Lê Hoàn giỏi về nhiều mặt: giỏi quân sự, giỏi nội trị, mà ngoại giao cũng rất giỏi.

Riêng về ngoại giao, trong quan hệ với nhà Tống, Lê Hoàn thực hiện một chính sách vừa mềm dẻo vừa cứng rắn; mềm dẻo để giữ vững hòa hảo giữa hai nước, nhưng cứng rắn để hạn chế những thái độ hống hách, nước lớn của nhà Tống. Sau khi đánh thắng quân Tống, Lê Hoàn chủ động cho sứ sang Tống. Trong thời gian từ năm 982 đến 985, sứ thần hai nước, ta và Tống thường qua lại, nhưng Lê Hoàn không đả động gì đến việc trả tù binh cho Tống. Năm 985, nhà Tống sai sứ sang thăm nước ta.

Tới năm 986, tức 5 năm sau khi chiến tranh kết thúc, Lê Hoàn mới chấp nhận giải quyết vấn đề tù binh và báo cho Tống biết. Cuối năm 986, vua Tống cho hai quan văn là Lý Nhược Chuyết và Lý Giác sang ta để nhận tù binh và mang sắc vua Tống phong Lê Hoàn chức An Nam đô hộ Tĩnh hải quân tiết độ sứ, kinh triệu quận hầu. Sắc phong này chỉ có ý nghĩa là nhà Tống phải chính thức thừa nhận Lê Hoàn là người cầm quyền trị nước của ta và chịu từ bỏ mưu đồ xâm lược nước ta. Trên thực tế, Lê Hoàn vẫn là hoàng đế của một nước độc lập, không phải tiết độ sứ của một địa phương nào của Tống.

“Vua nhận chế rất kính, lễ thết đãi rất hậu, hàng ngày đem những thứ quý bày chặt cả sân, để tỏ sự giàu có. Đem bọn Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân trả cho về. Lại bảo Lý Nhược Chuyết và Giác rằng: “Nước tôi bé nhỏ , 16 Luan van sông núi xa xôi, nghìn dặm cách trời, ở lánh góc đất, sứ thần đi lại, lặn lội núi sông, há chẳng phải khó nhọc lắm ư?” [16, tr. Năm sau (987), vua Tống lại cho Lý Giác sang sứ nước ta, sứ không ghi rõ là sang về việc gì.

Lý Giác là một văn thần, học vấn rộng, thơ văn giỏi. Lần này, muốn để cho sứ Tống thấy nước ta là một nước thi thư, có văn hiến, có nhiều nhân tài, nhiều trí thức, nên Lê Hoàn cử một nhà sư là Đỗ Thuận tham gia tiếp sứ. Thời Ngô, Đinh, Lê, Lý, các nhà sư là tầng lớp có học thức nhiều hơn cả. Sư Đỗ Thuận giả làm một người “nhà đò” chở thuyền đi theo đoàn thuyền lên đón sứ Tống tại chùa Sách, ở hạ lưu sông Thương (có sách nói là sứ nhà Tống vào cửa biển Ngãi Am (Nam Định).

Lý Giác nhìn thấy hai con ngỗng bơi lội dưới sông liền ngâm hai câu thơ: Nga nga lưỡng nga nga Ngưỡng diện hướng thiên nha. Lái đò Đỗ Thuận ngâm tiếp theo ngay: Bạch mao phô lục thủy Hồng trạo bãi thanh ba. Bốn câu thơ của Lý Giác và Đỗ Thuận hợp lại là: Nga nga lưỡng nga nga Ngường diện hướng thiên nha Bạch mao phô lục thủy Hồng trạo bãi thanh ba Dịch: Ngỗng kìa ngỗng một đôi Ngửa mặt nhìn chân trời Lông trắng vô nước biếc Rẽ sóng, chèo hồng bơi [25, tr.116] Lý Giác rất khâm phục người lái đò thông minh, uyên bác, và qua tài trí của người lái đò, Lý Giác rất khâm phục trình độ văn hiến và tài năng của nhân dân ta. Như thế là việc nhà sư Đỗ Thuận chèo thuyền tiếp sứ đã đạt được mục đích của Lê Hoàn.

Khi Lý Giác sứ Tống trở về nước, vào triều từ biệt vua ta Lê Hoàn, sử ghi “Lý Giác lạy ra về” [16, tr. 17 Luan van Năm 990, nhà Tống cử Tống Cảo mang chiếu thư của vua Tống phong thêm cho Lê Hoàn hai chữ “Đặc tiến”. Lê Hoàn cho quân ra đón vào theo đường biển. Thuyền đón sứ đi khoảng một tháng mới tới trạm tiếp sứ của ta đặt ở gần kinh thành Hoa Lư.

Từ trạm tiếp sứ, sứ Tống nhìn ra thấy dưới sông thuyền chiến san sát, quân sĩ ta đương chèo thuyền, đánh chiêng trống, hò reo tập trận. Bên sườn núi gần kinh thành, cờ xí, khí giới rợp trời, quân sĩ binh phục sặc sỡ, đi lại tấp nập. Đây là một cách uy hiếp tinh thần sứ Tống ngay khi chúng mới tới. Công việc của sứ là đem một chiếu thư của vua Tống tới vua ta.

Theo lễ nghi ngoại giao phong kiến, khi nhận chiếu thư của thiên tử nước lớn, vua ta phải lạy bức chiếu thư đó. Nhưng nhận chiếu thư của vua Tống, Lê Hoàn không lạy, lấy cớ là năm vừa qua đánh giặc bị ngã ngựa đau chân, sứ Tống cũng đành chịu. Mở tiệc chiêu đãi sứ thần nhà Tống, vua Lê Hoàn cho đặt yến tiệc tại bãi biển, để chủ và khách vừa ăn yến, vừa liên hoan múa hát, lấy trò bắt cá làm vui. Tổ chức chiêu đãi như thế là rất trọng thể, nhưng lại rất bất tiện khó xử cho sứ, ăn mất ngon.

Vì trong khi yến tiệc, Lê Hoàn tuy là vua, nhưng tự cởi mũ áo, bỏ giày, đi chân không lội xuống nước đâm cá. Các quan dự tiệc cũng cởi đai, mũ, đi chân không lội xuống nước tham gia trò đâm cá như Lê Hoàn. Mỗi khi có người đâm trúng cá thì mọi người hò reo nhảy múa. Sứ nhà Tống tại bàn tiệc trở nên lúng túng, không dám làm theo.

Trong khi ăn uống, Lê Hoàn thường tự hát để mời rượu các sứ thần. Sứ nhà Tống đón cốc rượu mà không hát đáp lại được nên rất ngượng ngùng, không ăn uống được. Khi Tống Cảo, Vương Thổ Tác xin phép về nước, Lê Hoàn bảo thẳng vào mặt sứ rằng: Sau này có quốc thư thì nên để giao nhận ngay ở đầu địa giới, không phiền sứ thần đến đây nữa. Khi về tới nước, bọn Tống Cảo phải tâu đúng như thế với vua Tống.

Vua Tống cũng phải bằng lòng, không làm gì được hơn. 5 năm sau (tức năm 995), tại miền biên giới giữa nước ta và nước Tống, đôi khi có những cuộc xung đột vũ trang nhỏ do quân địa phương gây nên. Theo báo cáo của quan lại nhà Tống ở Quảng Tây, Liêm Châu là Trương Quan, Vệ Chiêu Tiểu gửi vua Tống thì ta đã cho hơn 100 thuyền chiến sang đánh cướp trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu, gần biên giới nước ta, rồi lại cho hơn 5.000 hương binh đánh sang đất Ung Châu (Quảng Tây). Không rõ đó là những sự việc có thật hay quan lại nhà Tống ở vùng biên giới có ý vu cáo để gây chuyện với ta.

Nhưng vua Tống bỏ qua những lời tâu ấy, không muốn có điều gì bất 18 Luan van hòa với ta. Sau đó, bọn Trương Quan, vệ Chiêu Tiểu lại tâu dối vua Tống là vua Lê Hoàn đã bị mất ngôi, phải chạy ra hải đảo làm nghề cướp biển và cũng đã chết rồi. Vua Tống phải cho người đi dò xét xem hư thực thế nào thì thấy bọn này tâu láo. Vua Tống cho đem hành tội bọn Trương Quan, Vệ Chiêu Tiểu.

Vệ Chiêu Tiểu bị xứ chém; Trương Quan sợ, phát bệnh mà chết. Sau khi hành tội bọn này, vua Tống cho Lý Nhược Chuyết sang sứ nước ta, mang chiếu thư và đai ngọc tặng vua Lê Hoàn “mong ta vẫn giữ quan hệ láng giềng tốt”. Lê Hoàn nhận chiếu thư và đai ngọc một cách bình đẳng với thiên tử nhà Tống, chứ không làm lễ phiên thần. Lê Hoàn bảo sứ Tống là Lý Nhược Chuyết rằng: “Việc cướp trấn Như Hồng là bọn giặc biển ở cõi ngoài, Hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu (chỉ nước ta) chống lại thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung (Quảng Châu) rồi đánh đến Môn Việt (vùng Phúc Kiến) há chi đánh một trấn Như Hồng mà thôi” [16, tr.

Thời xưa, triều đình tiếp sứ phương Bắc ít khi nói được những điều cứng rắn như thế. Năm 997, theo yêu cầu của Lê Hoàn, vua mới của nhà Tống là Tống Chân Tông phải hạ lệnh không cho sứ sang Việt Nam, mỗi khi có gì đưa sang Việt Nam thì chỉ cho quan đem đến biên giới rồi báo sang ta; ta cho người lên biên giới nhận. Từ đây cho tới khi Lê Hoàn mất, đôi khi chỉ có sứ ta sang Tống mà không có sứ Tống sang ta. Đây là một thắng lợi ngoại giao tỏ rõ sức mạnh của dân tộc ta vào thời kỳ Lê Hoàn làm vua và ưu thế của người Việt Nam trong quan hệ đối ngoại thời đó.

Đối với nhà Tống, quan hệ hòa hảo giữa hai nước vẫn giữ vững, nhưng chỉ mình sang nước người mà người không được sang nước mình, chấm dứt mọi hành động hống hách, hạch sách của sứ Tống đối với nhân dân Việt Nam. Những thắng lợi ngoại giao của Lê Hoàn có ảnh hưởng tốt trong nhiều năm sau khi ông đã qua đời. Năm 1005 Lê Hoàn mất, miếu hiệu là Đại Hành Hoàng đế, sách sử thường viết là Lê Đại Hành. Cuối năm 1005, Lê Long Đĩnh lên nối ngôi, nhưng chưa đặt quan hệ với nhà Tống ngay, vì sau khi Lê Hoàn chết bọn vua chúa nhà Tống mưu tính đánh cướp nước ta.

Vua Tống cho viên tri châu Quảng Châu là Lăng Sách và viên an phủ sứ miền biển là Thiệu Việp tìm hiểu tình hình và chuẩn bị kế hoạch xâm lược nước ta. Sau hơn 19 Luan van một năm liệu định phương lược, tháng 7 năm 1006, bọn Lăng Sách tâu lên vua Tống xin đem quân đánh nước ta và y quả quyết: “Nếu triều đình chuẩn y, xin lấy binh ở các châu Quảng Nam và cho thêm 5.000 quân tinh nhuệ ở Kinh Hồ, theo hai đường thủy bộ cùng tiến thì lập tức bình định được” [16, tr. Nhưng vua Tống không dám quyết. Sức mạnh của dân tộc ta thời Lê Hoàn trị nước vẫn làm cho vua Tống e ngại.

“Họ Lê thường vẫn sai quân con vào chầu, không thiếu trung thuận, nay nghe tin mới chết chưa có kễ thăm viếng đã vội đem quân sang đánh, như vậy không đáng là đấng vương giả” [24, tr. Cho nên Tống và ta tiếp tục giao hảo. Được ít lâu sau, An phủ sứ nhà Tống là Thiệu Tiệp lại đề nghị xâm lược nước ta một lần nữa, nhưng vua Tống không thuận đáp: “Giao Châu độc địa, nếu đem quân sang đánh, chết hại rất nhiều, nên giữ cẩn thẩn cõi đất của tổ tông mà thôi ”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn tốt nghiệp mang tiêu đề "Luận văn tốt nghiệp: Vai trò của ngoại giao trong bảo vệ đất nước dưới thời Trần thế kỷ XIII" của tác giả Đậu Thị Thương, thuộc Khoa Sử, Đại Học Đà Nẵng, khám phá vai trò quan trọng của ngoại giao trong công cuộc bảo vệ đất nước trong bối cảnh lịch sử thế kỷ XIII. Bài viết không chỉ làm nổi bật những chiến lược ngoại giao mà triều đại Trần đã áp dụng để duy trì hòa bình và ổn định, mà còn phân tích các mối quan hệ quốc tế và tác động của chúng đến sự phát triển của đất nước. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức mà ngoại giao đã góp phần vào sự tồn vong của dân tộc trong thời kỳ khó khăn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến ngoại giao và văn hóa, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ về ngoại giao văn hóa của Trung Quốc đối với Đông Nam Á dưới thời Tập Cận Bình, nơi phân tích cách thức mà ngoại giao văn hóa đã được sử dụng để tăng cường ảnh hưởng trong khu vực. Ngoài ra, bài viết Ngoại giao văn hóa Ấn Độ và tác động đến Đông Nam Á dưới thời Thủ tướng Modi cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về cách mà các quốc gia khác trong khu vực đang áp dụng ngoại giao văn hóa để xây dựng mối quan hệ. Cuối cùng, bài viết Nghiên Cứu Luận Văn Thạc Sĩ Về Tiếp Nhận Văn Hóa Nhật Bản Tại Việt Nam (1993-2022) sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quá trình tiếp nhận và ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài đến Việt Nam, từ đó liên kết với các khía cạnh ngoại giao trong lịch sử.