CHƯƠNG 1 CƠ SỞ CHO SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - HÀN QUỐC Từ lý thuyết và thực tiễn về kinh tế quốc tế, thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế có thể thấy rằng để phát triển quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, bên cạnh yếu tố nền tảng là sự tồn tại của lợi thế so sánh giữa họ, còn phải có một số yếu tố khác nữa. Chúng có thể mang tính khách quan (quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ), và có thể mang tính chủ quan (chính sách kinh tế đối ngoại nói riêng và toàn bộ hệ thống chính sách kinh tế của các nước nói chung). Sự phát triển nhanh chóng quan hệ thương mại, đầu tư nói riêng và quan hệ kinh tế nói chung giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong suốt hai thập kỷ qua đã góp phần khẳng định cho nhận định trên. Trên thực tế, quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc được bắt đầu từ đầu thập kỷ 1980, chủ yếu thông qua trao đổi hàng hoá một cách tự phát.
Vào thời điểm này, ở Hàn Quốc đã xuất hiện những nhu cầu mới, đòi hỏi chính phủ phải cải cách nền kinh tế theo hướng mở cửa và tăng cường hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Còn ở Việt Nam, công cuộc cải cách nền kinh tế sang kinh tế thị trường cũng được bắt đầu vào thời gian này, và được tăng cường sau khi khối XHCN sụp đổ vào đầu những năm 1990. Thực tế khách quan này đã tạo đà cho việc xích lại gần nhau hơn giữa hai nước. Bên cạnh đó, dựa trên các lợi thế so sánh, chính phủ hai nước đã có những bước đi thích đáng nhằm xây dựng môi trường pháp lý cho sự phát triển vững chắc quan hệ kinh tế song phương.
Hơn nữa, yêu cầu đòi hỏi của quá trình toàn cầu hoá và tự do hoá kinh tế đã buộc Việt Nam và Hàn Quốc phải có những điều chỉnh trong quan điểm, định hướng chính sách và chiến lược phát triển kinh tế cho phù hợp với tình hình mới. Những thay đổi này đã có tác động tích cực lên sự phát triển quan hệ kinh tế giữa hai nước thời gian qua. Vậy, cơ sở nào chi phối sự phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc và các tác động nào đã ảnh hưởng và tác động đến mối quan hệ này trong thời gian qua? đây là những câu hỏi cần phải giải đáp trong 5 chương này. SỰ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC KINH TẾ KHU VỰC VÀ VIỆT NAM - HÀN QUỐC Mối quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc đã được phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá được tăng cường mạnh mẽ từ cuối thập kỷ 1980.
Căn cứ vào các số liệu ở bảng 1.1, có thể thấy rằng từ thời điểm đó, các nước Châu Á - Thái Bình Dương đã gia tăng đáng kể mức độ liên kết vào nền kinh tế toàn cầu. Các nước này đều đã rất coi trọng việc mở rộng thương mại nội bộ và với các nước khác nhằm thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài, nhất là FDI. Đồng thời đây cũng là thời gian liên kết kinh tế khu vực được tăng cường thông qua các hoạt động đa dạng của ASEAN và APEC. Trong đó, các nước trong khu vực đã giành sự quan tâm đáng kể cho việc mở rộng trao đổi buôn bán thương mại.
Điều này được minh chứng qua các số liệu ở Bảng 1. Trong giai đoạn này, tỷ trọng của xuất khẩu nội vùng trong tổng xuất khẩu của nhiều nước Đông Á đã gia tăng mạnh, trong đó Hàn Quốc và Việt Nam đã tăng gấp hơn hai lần, tương ứng từ 5,8% và 0,4% lên 13,3% và 1%.1 Liên kết với nền kinh tế toàn cầu Trao đổi Tổng dòng Trao đổi Tổng hàng hoá (% vốn vào tư hàng hoá (% FDI (% Tên nước so với GDP nhân (% so so với GDP) so với hàng với GDP) GDP) hoá) 1990 2000 1990 2000 1990 2000 1990 2000 Hàn Quốc 53,4 72,8 72,8 153,8 6,2 11,5 0,7 3,2 Việt Nam 79,7 96,0 96,0 - 10,8 - 4,1 Thái Lan 66,1 107,2 107,2 211,4 13,5 11,3 3,0 2,8 Indonexia 41,5 62,4 62,4 97,2 4,1 8,5 1,0 4,2 Trung Quốc 32,5 43,9 43,9 65,8 2,5 12,7 1,2 4,3 Nguồn: World Development Indicators 2002, WB, p. Cũng vào những năm cuối thập kỷ 1980, đã có nhiều thay đổi xuất hiện trong nội bộ các nền kinh tế Việt Nam và Hàn Quốc, khiến chính phủ hai nước phải quan 6 tâm hơn đến việc mở rộng quan hệ với bên ngoài, đặc biệt là với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Ở Hàn Quốc lúc đó, vai trò của tiêu dùng trong nước như là động lực về nhu cầu cho tăng trưởng kinh tế đã giảm dần và thay vào đó là sự gia tăng vai trò của xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài.
Có một số nguyên nhân dẫn đến việc Hàn Quốc tăng cường mở rộng xuất khẩu và đầu tư ra bên ngoài vào thời điểm này. Đó là: a) Sau nhiều năm đạt tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, cán cân thanh toán đã đạt thặng dư 4,2 tỷ USD vào năm 1986, nguồn dự trữ ngoại tệ của Hàn Quốc đã gia tăng đáng kể - từ 6,57 tỷ USD năm 1980 lên 14,8 tỷ năm 1990 và 32,7 tỷ USD năm 1995; Bảng 1.2 Tỷ trọng của thương mại nội vùng trong tổng xuất khẩu của các nước Đông Á 1985, 1995 và 2001 Tỷ trọng Giá trị xuất khẩu nội Tỷ trọng của xuất Nước xuất trong GDP vùng (triệu USD) khẩu nội vùng (%) khẩu toàn vùng 1985 1995 2001 1985 1995 2001 2001 Brunei 922 951 1.192 2,1 0,3 0,3 0,4 Campuchia 3 276 182 6,1 0,1 Trung Quốc 10.759 15,5 12 11,2 3,3 Mông Cổ 4 111 242 0 0 0,1 0,1 Philippin 1.354 0,4 0,6 1 1,2 Nguồn: IMF, Direction of Trade Statistics. b) Trong điều kiện lao động và vốn đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng GNP so với việc tăng năng suất, tiền lương thực tế ở Hàn Quốc luôn gia tăng với tốc độ từ 6-8% suốt từ đầu thập kỷ 1980 đã làm cho khả năng cạnh tranh về giá của hàng hoá xuất khẩu của nước này bị giảm dần. Điều đó buộc các doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn lao động rẻ hơn ở các nước khác.
c) Tỷ lệ tiết kiệm quốc gia đã đạt mức khá cao (trên 30%) và đã vượt quá tỷ lệ đầu tư. Nền kinh tế Hàn Quốc được coi là nền kinh tế tự cung tự cấp. d) Từ những năm đầu 1990, nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu bước vào một thời kỳ phát triển mới - thời kỳ của dân chủ hoá, tư nhân hoá và tự do hoá mạnh mẽ. Đối tượng đầu tiên được chính phủ Hàn Quốc quan tâm đến khi tăng cường thực hiện chiến lược toàn cầu hoá của mình là các nước Đông Nam Á khu vực dân cư đông đúc, giá lao động lại rẻ, giàu tài nguyên thiên nhiên, trình độ phát triển kinh tế lại lạc hậu hơn và đang kiên trì theo đuổi đường lối kinh tế hướng ngoại.
Vào thời gian trên, Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới nền kinh tế. Quá trình này được tăng cường rõ rệt sau năm 1990, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa bị tan rã. Tinh thần quyết tâm đổi mới sang nền kinh tế thị trường, sự chuyển hướng trong chính sách kinh tế đối ngoại nhằm đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá các bạn hàng và các đối tác là chủ trương quan trọng mà Việt Nam đã khởi xướng và nhận được sự đồng tình và ủng hộ trong nước và quốc tế. Mặc dù vào thời điểm đó, qui mô thị trường trong nước còn nhỏ hẹp, nền kinh tế lại kém phát triển, tài nguyên thiên nhiên đa dạng và còn chưa được khai thác hiệu quả trong khi nhu cầu về vốn và công nghệ cần thiết cho công cuộc đổi mới là rất lớn.
Vì vậy, đổi mới hoạt động đối ngoại nói chung, kinh tế đối ngoại nói riêng là yêu cầu khách quan nhằm đưa Việt nam thoát khỏi thế cô lập và nhanh chóng hoà nhập với thế giới. Trong bối cảnh đó Việt Nam đã tranh thủ được sự quan tâm của nhiều nước trong khu vực, trong đó có chính phủ và giới kinh doanh Hàn Quốc. Một khi hợp tác khu vực được tăng cường sẽ tạo cơ hội cho các nước 8 nói 9 chung, Việt Nam - Hàn Quốc nói riêng có điều kiện mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Đặc biệt kể từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (22-12-1992).
Có thể coi đây là cái mốc quan trọng mở ra một trang sử mới cho mối quan hệ song phương nhiều mặt giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Cho đến nay, trải qua chặng đường 15 năm phát triển chưa phải là dài, song những thành tựu đã đạt được trong mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc rất đáng được ghi nhận, đặc biệt trong hợp tác kinh tế. Nếu như năm 1992, kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc mới chỉ đạt 581,7 triệu USD, thì đến năm 2005 đã tăng lên 4,23 tỷ USD và năm 2006 đã lên đến hơn 5 tỷ USD. Theo Cục Xúc tiến đầu tư thương mại Hàn Quốc (KOTRA), tính đến hết tháng 7 năm 2007 Hàn Quốc đã chính thức vượt qua Singapore để trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lên tới 10,33 tỷ USD, trong đó phần lớn là vào khu vực công nghiệp và xây dựng.
Hợp tác song phương Việt Nam - Hàn Quốc còn được phát triển trong các lĩnh vực khác, như khoa học kỹ thuật, văn hoá, giáo dục. KHAI THÁC LỢI THẾ SO SÁNH VÀ ĐÁP ỨNG NHU CẦU LỢI ÍCH CỦA HAI NƯỚC Những thành tựu to lớn đó đã góp phần khẳng định rằng mối quan hệ song phương Việt Nam - Hàn Quốc thể hiện sự gặp nhau giữa nhu cầu và lợi ích của cả hai bên và được phát triển dựa trên những lợi thế so sánh của mỗi nước. Xét về nhiều mặt, hai nền kinh tế Việt Nam và Hàn Quốc có tính bổ sung cho nhau rất rõ rệt. Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, có vị trí thuận lợi về giao thông, đặc biệt là giao thông biển, nối liền các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á, trong đó có Hàn Quốc.