CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN BÁO ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐÈ MOI QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TE VIỆT NAM - LB NGA 1. Những khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn Thứ nhất, báo điện tử. Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ loại hình báo chí được đăng tải trên mạng internet.
Tại Việt Nam, báo điện tử được công chúng biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như báo mang (Network newspaper), báo online (Online newspaper), báo internet (Internet newspaper), báo trực tuyến (online newspaper). Trong các tên gọi nay, cách định danh “báo điện tử” đã di vào nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và được sử dụng rộng rãi. Ngày nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta sử dụng thuật ngữ “báo điện tử”, cụ thể: Theo điều 20, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 của Chính phủ về quản lý cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, báo điện tử là một trong 5 loại của trang tin điện tử gồm: báo điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp, trang thông tin điện tử nội bộ, trang thông tin điện tử cá nhân và trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành. Trong Luật Báo chí 2016, khái niệm báo điện tử được định nghĩa như sau: “Báo điện tứ là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng gém bdo điện tử và tạp chí điện tử `.
Trong khuôn khô luận văn này, tác giả xin phép dùng khái niệm “báo điện tử” dé thống nhất về định nghĩa cũng như phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật chính thức của Nhà nước. Việt Nam thiết lập mạng Internet vào ngày 19/11/1997 đã tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của báo điện tử Việt Nam. Tạp chí Quê Hương điện tử (tạp chí của Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao của Việt Nam) với tên miên: quehuongonline.vn là tờ báo điện tử đâu tiên của Việt Nam. Với thê mạnh của báo điện tử, sau đó hàng loạt các cơ quan báo chí đã tiến hành thử nghiệm và lần lượt 15 xuất bản ấn phẩm của mình trên mạng Internet.
Sau 26 năm phát triển, quy mô báo điện tử ở Việt Nam ngày càng phát triển vượt bậc. Mức độ cạnh tranh của các tòa soạn báo điện tử cũng trở nên khốc liệt hơn. Theo số liệu của Bộ Thông tin & Truyền thông, về cơ cấu số lượng cơ quan báo chí in và điện tử, tính đến hết tháng 5/2022 cả nước có 815 cơ quan báo chí, gồm 138 báo và 677 tạp chí, trong đó có 29 cơ quan báo chỉ chỉ thực hiện loại hình điện tử. Trong bối cảnh thế giới bước sang kỷ nguyên số, với những phương tiện, hình thức thông tin truyền thông mới, hệ thống báo chí điện tử, phát thanh, truyền hình trên mạng internet phát triển mạnh, nhiều báo điện tử được thành lập và phát triển nhanh chóng, với số lượng người truy cập ngày càng cao như Nhân dân, Vnexpress, Vietnamnet, Dân trí, Tuoitreonline.
Số lượng, chương trình, chuyên mục, ấn phẩm bằng tiếng nước ngoài ngày càng tăng. Báo điện tử có những đặc trưng cơ bản riêng biệt, phân biệt với các thé loại báo chí khác như báo in, phát thanh hoặc truyền hình, cụ thé: Khả năng đa phương tiện: Báo điện tử thường cung cấp nhiều hình thức đa phương tiện truyền tải thông tin như văn bản, hình ảnh, video, âm thanh và đồ họa vừa dé truyền tải thông tin một cách sinh động và trực quan vừa tăng cường trải nghiệm đọc tin tức của người đọc. Tính tức thời và phi định kỳ: Báo điện tử cung cấp tin tức cập nhật liên tục, cho phép người đọc cập nhật thông tin mới nhất và theo dõi các sự kiện diễn ra trên toàn thế giới. Khác với các loại hình báo chí khác, nội dung thông tin trên báo điện tử không bị giới hạn bởi một khuôn khổ của trang báo, thời lượng phát song hay thời gian tuyến tính.
Quy trình sản xuất thông tin đơn giản nên các bài viết, tin tức được đăng tải ngay lập tức khi sự kiện diễn ra. Công chúng dễ dàng truy cập và đọc tin tức trực tuyến thông qua các thiết bị có kết nối Internet như máy tính, điện thoại di động hoặc máy tính bảng. 16 Tinh tương tác: Bao điện tử cho phép người đọc tương tác và tham gia bình luận, chia sẻ ý kiến và thảo luận với nhau thông qua hệ thống bình luận hoặc mạng xã hội. Đặc trưng này tạo ra môi trường thảo luận, giao lưu trực tuyến giữa công chúng với nhà báo, phóng viên và tòa soạn.
Đồng thời giúp báo chí có thé “giữ chân” và “nuôi dưỡng” công chúng trung thành. Khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin: Báo điện tử thường có chức năng tìm kiếm nhanh chóng thông tin cần thiết và lưu trữ các bài viết quan trọng dé xem lại sau này. Có thé lọc tìm kiếm theo chủ đề, thời gian hoặc từ khóa trên công cụ “tìm kiếm” của báo điện tử. Thứ hai, hợp tác kinh tế và quan hệ hợp tác kinh tế.
Hợp tác kinh tế được xác định là phương thức cơ bản trong cách tiếp cận các vấn đề của nhân loại trong môi trường kinh doanh quốc tế (bảo vệ môi trường, tiếp cận tài nguyên thiên nhiên, thực phẩm, phát triển không cân bang.) Ong Enrique O'Farrill, Giám đốc Điều hành Cơ quan Hop tác Phát triển Quốc tế Chile (AGCID) cho rang, “hop tác kinh tế là một khái niệm phức tạp liên quan đến hợp tác công nghiệp, tài chính, thương mại, kinh doanh và sản xuất. Hơn nữa, hợp tác kinh tế được xác định là yếu tô cầu thành hợp tác quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập thương mại và trong môi trường quốc té bang cách thực hiện các hoạt động nhằm mang lại lợi ích kinh tế trung và đài hạn gián tiếp “ Theo ý kiến này, hợp tác kinh tế không chỉ giới hạn trong các vấn đề liên quan đến thương mại mà còn bao gồm nhiều khía cạnh như hợp tác công nghiệp, nghiên cứu và đôi mới khoa học công nghệ, thành lập các tô chức hop tác kinh tế. Theo Giáo su Gheorghe Caraiani (Đại học Mỹ - Rumani) định nghĩa, “hợp tdc kinh tế là hình thức hợp tác quốc tế nhằm đạt được lợi ích chung thông qua việc sử dung các nguồn tài chính, cơ sở vật chat và công nghệ của tat cả các đối tác ”. Theo Petre Tanasie - nhà ngoại giao Romania cũng là người đã phân biệt 3 khía cạnh của hợp tác kinh tế: theo nghĩa rộng, theo nghĩa hẹp và trong một số lĩnh vực hoạt 17 động cụ thể.
Theo nghĩa rộng, hợp tác kinh tế là “sự rao đổi hoạt động trong các lĩnh vực: thương mại quốc tế, hợp tác sản xuất, hợp tác khoa học và công nghệ, giao thông vận tải quốc tế, du lịch, quan hệ tài chính, lĩnh vực dịch vụ ”. Còn theo nghĩa hẹp, quan hệ hợp tác kinh tế là một “hình thức hợp tác giữa hai hoặc nhiều quốc gia hoặc các chủ thé thuộc các quốc gia khác nhau theo nhiều cách khác nhau nhằm mục đích đạt được các mục tiêu công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, khoa học kỹ thuật, du lịch hoặc các ngành kinh tế khác ”. Theo nghĩa này, hợp tác kinh tế không phải là trao đổi thương mại hay chuyên giao hàng hóa, dịch vụ và vốn từ nước ngày sang nước khác mà thể hiện việc sử dụng chung các nguồn lực và phương tiện của tất cả các đối tác. Theo Từ điển Chính trị van tat của NXB Tiến bộ và NXB Sự thật năm 1988, đã đưa ra một cách hiểu về hợp tác kinh tế là “Zoàn bộ các mdi liên hệ kinh tế giữa các nước, các nhóm nước riêng biệt và hai hệ thống kinh tế - xã hội - xã hội chủ nghĩa và tu bản chủ nghĩa.
” Trong Giáo trình kinh tế quốc tế do GS.TS Đỗ Đức Bình, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng biên soạn, xuất bản năm 2010 đã đề cập tới khái niệm và nội dung của quan hệ hợp tác kinh tế: “Id tổng thể các quan hệ về vật chất và tài chính, các quan hệ diễn ra không những trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong lĩnh vực khoa học công nghệ có liên quan đến tất cả giai đoạn của quá trình tái sản xuất, chúng diễn ra giữa các quốc gia với nhau cũng như các quốc gia với các tổ chức kinh tế”. Như vậy, quan hệ hợp tác kinh tế là một quá trình hợp tác song phương hoặc đa phương trong nhiều khía cạnh đề thúc đây sự phát triển kinh tế chung, tăng cường quan hệ thương mại, đầu tư và hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau. Hợp tác kinh tế có thé diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau, từ hợp tác giữa các doanh nghiệp và ngành công nghiệp đến hợp tác giữa các quốc gia hoặc vùng lãnh thé khác nhau. Mối quan hệ hợp tác được thực hiện trong một khuôn khổ có chủ trương chính sách, tổ chức, các quy tắc rõ ràng bao gồm kinh tế vi mô và vĩ mô.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, hợp tác kinh tế không chỉ giải quyết mối quan hệ 18 giữa các quốc gia mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các quốc gia với các tô chức chính phủ và phi chính phủ tham gia vào quan hệ kinh tế quốc tế. Hop tác kinh tế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, là điều kiện thúc đây nền kinh tế thế giới phát triển. Quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia chỉ có thé tồn tại và phát triển khi nó tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như: tự nguyện, bình đăng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền. Mục đích chung nhất của quan hệ hợp tác kinh tế là cùng hỗ trợ nhau, từng bước xóa bỏ những cản trở thương mại tiến tới tự do hóa.
Những nỗ lực của hai bên biểu hiện sự di chuyên từng phần đến tự do hóa các nguồn lực như vốn, lao động, hàng hóa, dịch vụ giữa hai nước. Hai bên đều cố gang đạt được những lợi ích nhất định từ quan hệ hợp tác kinh tế này. Thứ ba, tác phẩm báo chí. Trong cuốn “7ừ lý luận đến thục tiễn báo chi”, GS.
Ta Ngọc Tan định nghĩa : “7úc phẩm báo chí là một chính thé chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự với hình thức tương ứng”.