CHƯƠNG 1 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ HẠNH PHÚC TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC VÀ TRONG TRIẾT HỌC MÁC 1. KHÁI NIỆM “HẠNH PHÚC” Thuật ngữ “hạnh phúc” là một thuật ngữ Hán-Việt vừa có nguồn gốc trong quan niệm truyền thống phương Đông về “phúc”, vừa kế thừa các quan niệm của triết học phương Tây. Theo Từ điển Hán Việt Thiều Chửu, “Phúc, những sự tốt lành đều gọi là phúc. Kinh Thi chia ra năm phúc: (1) Giàu, (2) Yên lành, (3) Thọ, (4) Có đức tốt, (5) Vui đến tuổi trời” [57].
Theo Từ điển triết học Oxford, thuật ngữ “happiness” trong tiếng Anh (dịch ra tiếng Việt là “hạnh phúc”) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “eudaimonia”. Tuy nhiên, khái niệm hạnh phúc hiện nay không đồng nhất với thuật ngữ Hy Lạp này, vì eudaimonia “liên quan nhiều hơn đến trạng thái tâm lý cũng như tính chất chủ quan của cuộc sống cá nhân” [54]. Theo “Báo cáo về hạnh phúc thế giới năm 2013”, hạnh phúc (happiness) cần phải được xem xét ở hai cách (và đây cũng là cách họ đánh giá xếp hạng mức độ hạnh phúc của các nước trên thế giới, trong đó Việt Nam được xếp thứ 63 trong số 156 nước được xem xét): 1) cảm xúc ở một thời điểm xác định (Ngày hôm qua bạn có được hạnh phúc không?) và sự đánh giá cho cả một quãng đời (Bạn có hạnh phúc trong cuộc đời của mình không?) [56]. Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, Hạnh phúc là “khái niệm chỉ trạng thái con người thỏa mãn với cuộc sống đầy đủ và có ý nghĩa của mình”.
Hạnh phúc “là một khái niệm có tính chất đánh giá, gắn liền với nhân sinh quan, tức là quan niệm về cuộc sống phải như thế nào, cái gì là niềm vui trong cuộc sống”. Hạnh phúc “là hình thức cảm tính của lí tưởng, lí tưởng nói lên khát vọng của con người, còn hạnh phúc là sự thỏa mãn khát vọng ấy” [53]. Luan van 8 Hạnh phúc là một phạm trù hết sức phức tạp, đã tồn tại vô số các quan niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về vấn đề này. Vì vậy, khó có thể tìm được một định nghĩa về hạnh phúc mà thỏa mãn được các ý kiến, các khuynh hướng khác nhau, chung cho tất cả mọi người, mọi thời đại được.
Tuy nhiên, trên bình diện khái quát, chúng ta có thể rút ra một số đặc trưng chung về hạnh phúc: - Hạnh phúc theo quan niệm phổ biến nhất là sự khoái cảm, vui sướng, thanh thản, phấn chấn của con người trong cuộc sống khi được thỏa mãn các nhu cầu chân chính, lành mạnh cả về vật chất và tinh thần trong những điều kiện lịch sử xã hội nhất định. - Hạnh phúc có tính khách quan ở sự thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần nhất định, bởi một người sống trong xã hội mà kinh tế thì nghèo nàn, đời sống cá nhân thì thiếu thốn, chính trị thì bất ổn thường xuyên diễn ra chiến tranh, bạo loạn, chết chóc thì không thể nào có hạnh phúc được. Mặt khách quan thể hiện ở sự kết hợp các yếu tố vật chất và văn hóa tinh thần, không chỉ có mỗi yếu tố kinh tế và đời sống vật chất. Một nước có nền kinh tế phát triển nhất chưa chắc đã là một nước trong đó nhân dân được hưởng hạnh phúc nhiều nhất.
Chẳng hạn, Mỹ tuy là nước có nền kinh tế phát triển nhất trong G7 nhưng lại được xếp hạng thứ 17 trong “Báo cáo về Hạnh phúc thế giới năm 2013”. Nhiều nước G7 cũng không được xếp hạng cao. - Tuy nhiên, hạnh phúc cũng có mặt chủ quan, thể hiện ở sự cảm nhận chủ quan của mỗi người. Yếu tố chủ quan nhiều khi giữ vai trò quyết định cuối cùng trong việc cảm nhận và đánh giá về hạnh phúc.
Vì vậy, mới có những người dù sống trong sự giàu sang, phú quý nhưng vẫn không cảm thấy hạnh phúc và họ đi tìm sự giải thoát bằng cách tự tử hoặc sự quên lãng trong men rượu, ma túy, thuốc lắc. Có những yếu tố mà người đời thường cho là không thể thiếu trong thước đo của sự hạnh phúc như ăn uống, tình dục, nhà cao cửa Luan van 9 rộng, vợ đẹp con xinh, ., thì đối với một số tôn giáo như Ấn giáo, Phật giáo đó chỉ là những cái ảo, cái giả. CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC VỀ HẠNH PHÚC VÀ CON ĐƯỜNG MƯU CẦU HẠNH PHÚC 1. Trong triết học Ấn Độ Các tôn giáo Ấn Độ đều quan niệm rằng hạnh phúc không tồn tại ở trần thế.
Cuộc sống trần gian chỉ là tạm bợ và đầy rẫy những đau khổ. Vì vậy, các tôn giáo đều khuyến khích con người sống khổ hạnh, nhẫn nhục ở trần gian để được hưởng hạnh phúc cực lạc ở kiếp sau, thế giới bên kia. Quan niệm này xuất phát từ triết lý trong Kinh Vêđa rằng mọi đau khổ của con người đều xuất phát từ những ham muốn dục vọng cá nhân; chúng làm cho linh hồn cá thể (atman) mãi mãi gắn bó với thể xác trong một vòng luân hồi bất tận, là cái nghiệp gây ra hậu quả đau khổ ở kiếp sau. Từ đó, chủ nghĩa khổ hạnh tôn giáo đòi hỏi cá nhân người tu hành phải hy sinh những ham muốn, dục vọng đời thường, dấn thân vào việc tu luyện khắc khổ để mong được giải thoát khỏi kiếp đời đau khổ trần gian.
Nó có nhiều biểu hiện đa dạng, từ việc hạn chế ăn uống cho đến việc từ bỏ quan hệ tính dục. Có những biểu hiện cực đoan khác như suốt đời chỉ sử dụng một tay hoặc một chân; không dùng vải che thân. Tất cả những việc làm đó đều chỉ nhằm một mục đích duy nhất là mưu cầu sự bất tử và hạnh phúc vĩnh cửu cho linh hồn cá nhân người tu hành. Mục đích này có lẽ là điều hấp dẫn nhất của tất cả mọi tôn giáo trong lịch sử.
Tuy nhiên, suy cho cùng nó chỉ là điều mong ước chủ quan của con người; nó trái với quy luật khách quan và tính khả thi của nó không có gì chứng thực được. Tuy nhiên, quan niệm của tôn giáo Ấn Độ, nhất là Phật giáo cũng có nhiều yếu tố hợp lý: - Việc coi khinh đối với những ham muốn vật chất, đề cao những giá trị Luan van 10 nhân văn trong cuộc sống có tác dụng chống lại các quan niệm tầm thường, thô thiển về hạnh phúc, đồng nhất hạnh phúc với việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất, chạy theo lối sống gấp, sa đọa, đồi trụy của một bộ phận không nhỏ trong xã hội hiện nay. - Thái độ vị tha của Phật giáo trong việc cứu nhân độ thế, cứu khổ cứu nạn có tác dụng chống lại lối sống cá nhân, ích kỷ, khuyến khích lối sống vì cộng đồng. Đối lập với chủ nghĩa khổ hạnh tôn giáo, phái Charvaka (còn gọi là Lokayata) - một trào lưu triết học duy vật vô thần ở Ấn Độ cổ đại lại bác bỏ ảo tưởng ở kiếp sau, phản đối phương pháp tu luyện khổ hạnh.
Họ khẳng định, quan niệm cho rằng những khoái lạc gắn với những sự vật cảm tính là không tránh khỏi đi liền với những đau khổ là những lý lẽ ngu ngốc. Nó cũng giống như bảo rằng chúng ta hãy ném bỏ những hạt thóc đi vì chúng gắn liền với cái vỏ trấu và bụi đất. Không có thiên đường, không có sự giải thoát, không có linh hồn ở thế giới khác; không có nghiệp báo. Không ai có thể thoát khỏi cái chết.
Khi đã có cuộc sống thì bạn hãy sống một cách vui vẻ. Quan điểm này tuy về cơ bản là đúng nhưng còn mang tính chất thô thiển nên bị các tôn giáo chống đối mãnh liệt và bị coi là một thứ chủ nghĩa khoái lạc. Trong triết học Trung hoa Ở Trung Hoa, lối sống của xã hội chịu ảnh hưởng của hai khuynh hướng đối lập nhau. Trước hết là khuynh hướng nhập thế của Nho gia, chủ trương người trí thức phải học hành đến nơi đến chốn và đem tài năng của mình ra giúp đời, giúp nước.
Hạnh phúc lớn nhất của người quân tử là được cống hiến cho xã hội, lập được công danh. Quan điểm của Nho gia về hạnh phúc và lối sống có nhiều điểm hợp lý cần phải được kế thừa một cách có phê phán chọn lọc trong điều kiện hiện nay: Luan van 11 - Khổng Tử cổ vũ lối sống vị tha, luôn luôn nghĩ đến hạnh phúc của người khác. Theo ông, người quân tử phải “có lòng bác ái đối với nhân dân, thường xuyên cứu giúp mọi người” Ông nói: “Đối với người nhân đức, nếu mình muốn lập thân thì hãy giúp người lập thân; mình muốn thành đạt thì hãy giúp người thành đạt” (Luận ngữ, Ung dã, 28) và “Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác” (Luận ngữ, Vệ Linh Công, 23). Người quân tử coi mọi người “trong bốn biển đều là anh em một nhà cả” (Luận ngữ, Nhan Uyên, 5).
- Khổng Tử đã từng phân biệt quan niệm về hạnh phúc và lối sống của người quân tử với quan niệm của kẻ tiểu nhân. Người quân tử luôn luôn nghĩ đến việc nghĩa, tức là việc làm vì người khác, thậm chí nhiều khi phải hy sinh tính mạng, lợi ích của cá nhân mình. Đó là điểm căn bản để phân biệt với quan điểm và lối sống của kẻ tiểu nhân. Ông nói: “Quân tử luôn nghĩ đến đạo đức, tiểu nhân luôn nghĩ đến đất đai” (Luận ngữ, Lý nhân, 11).
“Quân tử chỉ quan tâm đến điều nghĩa, tiểu nhân chỉ quan tâm đến điều lợi” (Luận ngữ, Lý nhân, 16). Khổng Tử không phản đối việc mưu cầu hạnh phúc bằng việc làm giàu, vấn đề là không được làm giàu hay thoát nghèo bằng con đường phi nghĩa. Khổng Tử nói: “Giàu và sang thì ai cũng muốn. Nhưng nếu chẳng phải đạo mà đạt được thì không được làm.
Nghèo và hèn thì ai chẳng ghét. Nhưng nếu tìm cách thoát nghèo hèn mà trái đạo thì không nên làm” (Luận ngữ, Lý nhân, 5). Những người theo phái Đạo gia do Lão Tử sáng lập, Trang Tử phát triển, ngược lại đã coi hạnh phúc cá nhân ở cuộc sống vô vi, nhàn hạ, hòa hợp với tự nhiên. Sống hạnh phúc là sống thanh đạm, biết thế nào là đủ, không tham lam, không bon chen, không cạnh tranh.
Lối sống này cũng trở thành lối sống của nhiều người trí thức khi chưa gặp thời hoặc khi đã hoàn thành nghĩa vụ đối với xã hội.