CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM TÍNH THIỆN CỦA MẠNH TỬ 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM TÍNH THIỆN CỦA MẠNH TỬ 1. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội Trung Quốc cổ đại với việc hình thành quan niệm tính thiện của Mạnh Tử Trong lịch sử phát triển của nhân loại, từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây đã chứng minh rằng không có một học thuyết, trường phái triết học nào nảy sinh trên mảnh đất trống không, mà đều hình thành, phát triển trên những nền tảng, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nhất định. Đó là sản phẩm của lịch sử, của dân tộc và của thời đại; đồng thời cũng là tấm gương phản chiếu sâu sắc đời sống muôn vẽ của lịch sử, dân tộc và của thời đại đó.Mác đã từng viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [7, tr.
Nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng của Trung Quốc cũng đã kh ng định: “Phàm đã gọi là một học thuyết quyết không thể là một cái gì từ trên trời rơi xuống. Nếu nghiên cứu tỉ mỉ hơn chúng ta tất sẽ tìm được nhiều nguyên nhân đã xảy ra trước và hậu quả về sau của nó” là tư tưởng thường chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh trong đó nhà tư tưởng sống. Cảnh trí chung quanh khiến cho nhà tư tưởng có ý thức về cuộc sống theo một lối nào, và triết học của nhà tư tưởng, do đó sẽ có những điểm nhấn mạnh hay không đề cập tới, làm thành những nét đặc biệt của một triết học” [36, tr. Do đó, sẽ là chủ quan, phiến diện, phi lịch sử khi nghiên cứu tư tưởng của một học thuyết, trường phái triết học nào đó mà không chú ý tìm hiểu thấu đáo những điều kiện kinh tế - xã hội, cái mà đã quy định nội dung, tính Luan van 10 chất và sự phát triển của nó như thế nào, từ đó chúng ta mới lý giải một cách có căn cứ khoa học những vấn đề đặt ra liên quan đến nội dung tư tưởng của các học thuyết, trường phái triết học nói chung vàquan niệm tính thiện của Mạnh Tử nói riêng.
Thời kỳ Xuân thu được đánh dấu bằng sự kiện Chu Bình Vương dời đô về phía Đông đến Lạc Ấp (năm 771 tr. Đây là thời kỳ giao thời giữa hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ suy tàn và hình thái kinh tế - xã hội phong kiến sơ kỳ và cũng là thời kỳ phát triển rực rở của triết học Trung Quốc. Về mặt kinh tế: Thời kỳ này, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt. Sự ra đời của đồ sắt đã tạo ra một cuộc cách mạng trong việc phát triển công cụ sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế cổ đại Trung Quốc phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực.
Trước hết là nông nghiệp, ngành kinh tế có truyền thống lâu đời và giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội Trung Quốc. Từ nguyên liệu bằng sắt, người ta có thể chế tạo ra các công cụ sản xuất khác nhau giúp mở mang diện tích, xây dựng, phát triển hệ thống thủy lợi, các phương tiện vận chuyển v.v… vì vậy đã giảm bớt sức lao động cơ bắp cho con người, năng suất lao động tăng. Đặc biệt, k thuật canh tác về nông nghiệp đã có những tiến bộ vượt bậc với tri thức ngày càng sâu sắc, phong phú nó đã trở thành một môn khoa học. Chẵng hạn trên phương diện nhận thức, lợi dụng, cải tạo đất đai, trong sách Quản Tử thời Xuân thu đã chia đất đai toàn quốc theo độ phì nhiêu làm ba cấp: thượng, trung, hạ.
Trong đó, mỗi cấp chia làm sáu loại và chỉ ra giống cây trồng thích hợp với mỗi loại đất đó. Từ những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất nông nghiệp do sự xuất hiện của đồ sắt, tất yếu dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong quan hệ sản xuất cổ truyền ở thời Xuân thu. Nếu dưới thời Tây Chu giai cấp quý tộc chủ nô nắm Luan van 11 giữ toàn bộ nguồn gốc của cải trong xã hội, đó là sức lao động nô lệ và ruộng đất, thì giờ đây công xã đã giao h n đất công cho từng gia đình nông nô cày cấy trong thời hạn lâu dài. Họ có điều kiện lưu canh, luân canh để tăng năng xuất cây trồng.
Sự phân hóa đất công còn diễn ra mạnh mẽ, một phần do quý tộc chuyển sang tay thương nhân giàu có, một phần do chư hầu phong cấp cho các tướng lĩnh có công, một phần bọn quý tộc chiếm làm ruộng tư, hay đất tự nhiên do được phép khai hoang giờ đã trở thành đất của các nông dân tự do, v. Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã, chế độ tư hữu ruộng đất từng bước được hình thành, số lượng ruộng đất giữa các nông nô có sự chênh lệch, nhà nước đã ban hành chế độ thu thuế mới đánh vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu).CN nước đầu tiên thi hành chế độ thuế mới là nước Lỗ. Với điều kiện xã hội như vậy, tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của giai cấp địa chủ phong kiến thay thế cho giai cấp quý tộc chủ nô. Đồ sắt ra đời thay thế đồ đồng không chỉ thúc đẩy nông nghiệp phát triển mà còn thúc đẩy sản xuất thủ công nghiệp phát triển.
Góp phần thúc đẩy việc mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp nhanh chóng đạt tới trình độ chuyên nghiệp cao, mở ra cơ hội cho một loạt ngành nghề thủ công ra đời, phát triển. Ch ng hạn như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm v.v… Vào cuối thời Xuân thu, nước Ngô dựng lò luyện sắt, số thợ lên đến 300 người. Nước Tấn trưng thu mua sắt để đúc đỉnh hình. Phản ánh về sự phát triển của sản xuất thủ công nghiệp, mở mang ngành nghề, sách Chu lễ đã viết “ thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim hoàn chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…” [8, tr.
Sự phát triển đa dạng của nhiều ngành nghề thủ công nghiệp đã có ý nghĩa tích cực trong việc giải phóng sức lao động, góp phần phá vỡ nền kinh tế thuần nông, nâng cao đời sống của người dân Trung Quốc thời cổ đại, nhưng về chính trị, Luan van 12 do trình độ thợ thuyền còn thấp nên họ chưa có ảnh hưởng gì lớn trong đời sống chính trị - xã hội. Cùng với nông nghiệp và thủ công nghiệp, đồ sắt ra đời và trở nên phổ biến còn tạo cơ sở cho thương nghiệp phát triển hơn trước. Tiền tệ ra đời, trong xã hội hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có, danh tiếng như Phạm Lãi, Tử Cống, Huyền Cao… Họ ngày càng có thế lực, nhiều người kết giao với chư hầu, công khanh đại phu, có nhiều ảnh hưởng đối với đời sống chính trị đương thời. Sự hình thành và phát triển của thương nghiệp đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới - tiền thân của một bộ phận giai cấp địa chủ sau này.
Về chính trị - xã hội: Những biến đổi về mặt kinh tế tất yếu dẫn đến những biến đổi về mặt chính trị trong thời Xuân thu. Trước hết, đó là sự phân hóa trong cơ cấu giai cấp thống trị - giai cấp mà tính cố kết, bền chặt của nó có ý nghĩa quyết định đế sự vững bền của chế độ. Nếu như thời Tây Chu, giai cấp thống trị chỉ bao gồm những quý tộc, chủ nô, thì đến thời Xuân thu tầng lớp tự do, vì giàu có tài ba mà trở nên có thế lực bắt đầu chi phối xã hội theo cách của mình và đe dọa trực tiếp đến thế và lực của nhà Chu, là đầu mối của mọi sự biến đổi và chuyển mình của xã hội Trung Quốc suốt thời Xuân thu - Chiến quốc. Dưới thời Tây Chu chế độ tông pháp còn được tôn nghiêm, cai trị xã hội chủ yếu dựa vào lễ và tập tục; quý tộc chủ nô tùy tiện dùng hình phạt khắc nghiệt trừng trị những kẻ làm trái ý mình.
Điều đó có tác dụng tích cực giúp nhà Chu tồn tại, hưng thịnh trong một thời gian dài nhưng cũng chính từ cách cai trị đó đã gây ra nhiều bất công, oán thán âm ỉ kéo dài và cuối cùng, đã bùng nổ ở thời Xuân thu. Giờ đây, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn nghiêm, đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, những liên hệ về kinh tế trên cơ sở Luan van 13 chiếm hữu ruộng đất tăng lên, trật tự lễ nghĩa nhà Chu dần bị phá bỏ. Nhân cơ hội này nhiều nước đua nhau động binh, mượn tiếng, lâý cớ khôi phục chế độ tông pháp nhà Chu với khẩu hiệu “tôn vương bài di” nhưng thực chất là để bảo vệ, kh ng định, mở rộng quyền lực chính trị, kinh tế … của mình, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ. Thời Xuân thu có khoảng 242 năm nhưng đã xảy ra tới 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ giữa các nước chư hầu [8, tr.
Ngay trong từng nước cũng luôn xảy ra những cuộc tranh giành đất đai, địa vị, quyền thế giữa những quý tộc với nhau. Chẵng hạn vào năm 403 tr.CN ở nước Tấn có ba dòng họ lớn là Hàn, Nguỵ, Triệu đã nổi lên phế bỏ vua Tấn, dựng lên ba nước Hàn, Nguỵ, Triệu [36, tr. Chiến tranh triền miên, khốc liệt giữa các nước chư hầu, các quý tộc đã dẫn đế hậu quả là tàn phá xã hội nghiêm trọng. ấ : Những cuộc tranh giành, thôn tính, chinh phạt lẫn nhau của tầng lớp quý tộc đã dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt các nước chư hầu.
Đầu thời Tây Chu có hàng ngàn nước, đến cuối thời Xuân thu chỉ còn hơn một trăm nước. Trước và sau thời Xuân thu, nước Sở thôn tính 45 nước, nước Tề thời Tề Hoàn Công thôn tính 35 nước, nước Tấn diệt 20 nước, nước Lỗ diệt 12 nước, nước Tống diệt 6 nước, v.v…Cuối thời Đông Chu chỉ còn 5 nước lớn: Tống, Sở, Tề, Tấn, Việt và 4 nước nhỏ sắp bị diệt là Lỗ, Tống, Trịnh, Vệ. Sau bao cuộc chinh phạt đẫm máu, đến thời Chiến quốc còn lại bảy nước là Tề, Tần, Sở, Yên, Hàn, Ngụy, Triệu. : Chiến tranh đã xô đẩy người dân đến cùng khổ, mất mát.