Chương I: Quan niệm tính thiện của Mạnh Tử. Chương 2: Ý nghĩa quan niệm tính thiện của Mạnh Từ với việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay. Tong quan ti lu nghiên cứu. Nghiên cứu vấn để đạo đức nói chung và đạo đức của thanh niên nói riêng là chủ đề luôn thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả trong nước.
Hàng, loạt những công trình nghiên cứu về đạo đức nói chung và đạo đức của thanh niên nói riêng, đã ra đời mà điễn hình là một số công trình sau đây: Trước hết, là các công trình nghiên cứu về đạo đức trong triết học Khéng-Manh mà tiêu biểu là các công trình: Phạm Đình Đạt (2009), Zloc thuyết tính thiện của Mạnh Tử với việc giáo dục đạođức ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội ; Nguyễn Thị Lan Minh (2012),Phạm trù lễ của Không Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ. Các công trình kể trên đã trình bay, phân tích sâu sắc tình hình chính trị - xã hội Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc và những nội dung cơ bản về tính thiện, về đức trịtừ đó rút ra ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay. Thứ hai: Các công trình kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn đạo. đức, lối sống của thanh niên, mục tiêu chính của các tác giả là nghiên cứu đạo.
đức, lối sống trong cuộc sống thực tiễn, tuy nhiên, để định hướng đúng cho. nghiên cứu của mình, các tác giả tìm hiểu, xác định những cơ sở lý luận cơ bản ~ Đánh giá cao vai trò của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng đất nước trong quá khứ, hiện nay trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước và xây dựng một đất nước Việt Nam giàu, mạnh trong tương lai ~ Đánh giá thực trạng đạo đức, lối sống của thanh niên hiện nay. đó, các nhà khoa học chỉ ra những mặt tích cực, cũng như những hạn chế, cần được quan tâm trên phương diện đạo đức, lối sống của thanh niên. ~ Phân tích cảnh kinh tế xã hội và những yếu tố văn hóa, giáo dục tác động đến đạo đức, lối sống của thanh niên.
~ Nêu rõ tính cấp thiết của công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên từ quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước. ~ Đề xuất các giải pháp giáo dục để hình thành và phát triển những hành. vi đạo đức, lối sống tích cực, lành mạnh và bài trừ những biểu hiện lối sống. thiếu tích cực ở thanh niên Các nghiên cứu theo hướng này có thể kể đến Nguyễn Đình Đức, Thái Duy Tuyên, (1994), (chủ nhiệm đề tài KX — 01),“Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường ”; Trần Sĩ Phán (1999), “Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (Luận án TS triết học); Đỗ Ngọc Hà (2000), “Định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam ” (Luận án TS); Nguyễn Đình Quế (2000), “Quan hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam ” (Luận văn thạc sĩ);Huỳnh Khái Vinh (chủ biên) (2001), “Một số vấn đề vẻ lồi sống đạo đức, chuẩn giá trị xã hội "; Đoàn Văn Khiêm (2001), “Lý tưởng đạo đức và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay”; Phan Thị Mai Hương (chủ biên) (2002), “Tĩnh cộng đôi , tính cá nhân và cái tôi của thanh niên Liệt Nam”; Lê Thị Hoài Thanh (Luận án TS Triết học) (2003), “Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Liệt Nam hiện nay”; Trương Văn Phước (chủ nhiệm để tài khoa học) (2003), “Đạo đức sinh viên trong quá trình chuyển sang nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Viet Nam — thuc trạng, vấn đề và giải pháp "; Doan Thị Chín (2004), “Vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên Uiệt Nam hiện nay” (Luận văn thạc sĩ); Bùi Ngọc Minh (2004), “Giáo dục các giá trị truyền thông dân tộc cho thanh niên hiện nay”; Nguyễn Duy Quý (2006), “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay, vấn để và giải pháp; Trình Duy Huy (2009), “Xây dựng đạo đức mới trong nên kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa"; Phạm Hồng Tung (2010), (Đề tài khoa học cấp Nhà nước),“?hực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên ”; Lê Thị Tuyết Ba (chủ biên) (2010), “Ý thức đạo đức trong nên kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”.
Ngoài ra, trên một số tạp chí nghiên cứu điền hình là Tạp chí Triết học cũng có một số bài nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam, chẳng hạn bài: “Sự biến đổi định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường " của Thái Duy Tuyên, Tạp chí triết học, số 5- 1995; "Vì sao Hồ Chí Minh lại đặc biệt chú trọng đến vấn đề đạo đức?" của 'Hoàng Trung, Tạp chí Triết học, số 4, 2000; ”Tĩnh cảm đạo đức và giáo dục tình cảm đạo đức trong điều kiện hi nay" của Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí Triết hoc, số 6, (2000); "Giá trị đạo đức và sự biểu hiện của nó trong đời sối Mai Xuân Lợi, Tạp chí Triết học, số 2, (2001); “Một số biểu hiện của sự biến đối giá trị đạo đức trong nên kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục” của Nguyễn Đình Tường; Tạp chí Triết học, số 3, (2001); "Ly tưởng đạo đức và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay" của Đoàn Văn Khiêm, Tạp chí Triết học, số 6, (2002); “Khoa học công nghệ và đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trưởng" của Nguyễn Đình Hòa, Tạp chí Triết học, số 6, (2002); "Từ (cái thiện) truyền thống đến (cái thiện) trong cơ chế thị trường ở Liệt Nam hiện nay" của Nguyễn Hùng Hậu, Tạp chí Triết hoc, sé 8, (2002). Các công trình trên thực sự là những tài liệu bổ ích cho những người nghiên cứu vẻ giáo dục đạo đức cho con người nói chung và giáo dục đạo đức cho nói riêng. Tuy nhiên do mục đích, phạm vi nghiên cứu của mỗi công trình là khác nhau nên chưa có công trình nào riêng biệt bàn về tính thiện trong tư tưởng của Mạnh Từ với việc giáo dục đạo đức cho thể hệ trẻ. Kế thừa những thành quả trên, trong luận văn của mình, tôi muốn đi sâu tìm hiểu và trình bày một cách có hệ thống những tư tưởng cơ bản của Mạnh Tử về tính thiện và sự.
kế thừa những mặt tích cực vào việc giáo dục các giá trị đạo đức cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay. CHUONG 1 QUAN NIEM TINH THIEN CUA MANH TU’ 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN NIEM TINH THIEN CUA MANH TU 1. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội Trung Quốc cỗ đại với việc hình thành quan niệm tính thiện của Mạnh Tứ Trong lịch sử phát triển của nhân loại, từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây đã chứng minh rằng không có một học thuyết, trường phái triết học nào nảy.
sinh trên mảnh đất trống không, mà đều hình thành, phát triển trên những nền tảng, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nhất định. Đó là sản phẩm của lịch sử, của dân tộc và của thời đại; đồng thời cũng là tắm gương phan chiếu sâu sắc đời sống muôn vẽ của lịch sử, dân tộc và của thời đại đó.Mác đã từng viết: “Các triết gia không mọc lên như nắm từ trái dat, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tỉnh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [7, tr. Nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng của Trung Quốc cũng đã khẳng định: “Pham da goi là một học thuyết quyết không thể là một cái gì từ trên trời rơi xuống. Nếu nghiên cứu ti mỉ hơn chúng ta tit sẽ tìm được nhiều nguyên nhân đã xây ra trước và hậu quả về sau của nó” là tư tưởng thường chịu ảnh hưởng.
của hoàn cảnh trong đó nhà tư tưởng sống. Cảnh trí chung quanh khiến cho nhà tư tưởng có ý thức về cuộc sống theo một lối nào, và triết học của nhà tư tưởng, do đó sẽ có những điểm nhắn mạnh hay không dé cập tới, làm thành những nét đặc biệt của một triết học” [36, tr.32] Do đó, sẽ là chủ quan, phiến diện, phi lịch sử khi nghiên cứu tư tưởng của một học thuyết, trường phái triết học nào đó mà không chú ý tìm hiểu thấu đáo những điều kiện kinh tế - xã hội, cái mà đã quy định nội dung, tính 10 chất và sự phát triển của nó như thế nảo, từ đó chúng ta mới lý giải một cách có căn cứ khoa học những vấn đẻ đặt ra liên quan đến nội dung tư tưởng của. các học thuyết, trường phái triết học nói chung vàquan niệm tính thiện của Mạnh Tử nói riêng. Thời kỳ Xuân thu được đánh dấu bằng sự kiện Chu Bình Vương dời đô về phía Đông đến Lạc Ấp (năm 771 tr.
Đây là thời kỳ giao thời giữa hình. thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ suy tàn và hình thái kinh tế - xã hội phong kiến sơ kỳ và cũng là thời kỳ phát triển rực rở của triết học Trung Quốc. 'Về mặt kinh tế: Thời kỳ này, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt. Sự ra đời của đồ sắt đã tạo ra một cuộc cách mạng trong việc phát triển công cụ sản xuất, thúc đây nên kinh tế cô đại Trung Quốc phát triển nhanh chóng trên nhiễu lĩnh vực Trước hết là nông nghiệp, ngành kinh tế có truyền thống lâu đời và giữ.
vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội Trung Quốc. Từ nguyên liệu bằng sắt, người ta có thể chế tạo ra các công cụ sản xuất khác nhau giúp mở, mang diện tích, xây dựng, phát triển hệ thống thủy lợi, các phương tiện vận chuyển v. vì vậy đã giảm bớt sức lao động cơ bắp cho con người, năng, suất lao động tăng. Đặc biệt, kỷ thuật canh tác về nông nghiệp đã có những tiến bộ vượt bậc với trỉ thức ngày càng sâu sắc, phong phú nó đã trở thành một môn khoa học.
Chẵng hạn trên phương diện nhận thức, lợi dụng, cải tạo đất đai, trong sách Quản Tử thời Xuân thu đã chia đất đai toàn quốc theo độ phì nhiêu làm ba cấp: thượng, trung, hạ.