CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong Tổng quan tình hình nghiên cứu, các công trình liên quan đến đề tài sẽ được xem xét theo ba nhóm nội dung chính sau: Những công trình nghiên cứu đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình hình thành và phát triển của sức mạnh mềm. Việc tìm hiểu các công trình thuộc nhóm này là cần thiết bởi đây là những nội dung làm nền tảng cho những nghiên cứu chuyên sâu về sức mạnh mềm Nhật Bản được sử dụng trong luận án. Những công trình nghiên cứu đề cập đến quá trình triển khai sức mạnh mềm của Nhật Bản tại Đông Nam Á.
Đây là nội dung liên quan trực tiếp đến đề tài luận án, trình bày những vấn đề cốt lõi trong quá trình triển khai sức mạnh mềm của Nhật Bản tại Đông Nam Á. Những công trình nghiên cứu đánh giá về tác động của sức mạnh mềm của Nhật Bản tại khu vực Đông Nam Á. Đây là nhóm các công trình quan trọng phản ánh phạm vi, mức độ ảnh hưởng của sức mạnh mềm của Nhật Bản trong khu vực thông qua phương thức và mức độ tiếp nhận của các quốc gia Đông Nam Á. Nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình hình thành và phát triển của sức mạnh mềm Tình hình quan hệ quốc tế trong những thập kỷ gần đây luôn biến động không ngừng, chịu sự chi phối của nhiều nhân tố khác nhau, do đó tác động không nhỏ đến các quốc gia cũng như khu vực và thế giới.
Sự chi phối và cạnh tranh vì thế cũng diễn ra ngày càng phức tạp hơn, khó lường hơn. Sức mạnh của một quốc gia không còn chỉ tập trung vào một số lĩnh vực tiêu biểu như trước đây (chính trị, quân sự, kinh tế) mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, những yếu tố “mềm”. Nói cách khác, sức mạnh mềm ngày càng được xem là một trong những nhân tố quan trọng, tạo nên sức mạnh của một quốc gia. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về sức mạnh mềm đã thu hút được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm.
Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu trong nước về sức mạnh mềm đến nay còn chưa nhiều. 18 Trước hết cần kể đến bài viết Các yếu tố tinh thần trong quyền lực của quốc gia [Hoàng Khắc Nam, 2010]. Theo tác giả, cùng với sự phát triển của quan hệ quốc tế, bên cạnh các yếu tố vật chất, các yếu tố truyền thống làm nên sức mạnh tổng hợp của một quốc gia thì những yếu tố phi vật chất, vô hình – những yếu tố tinh thần cũng là những yếu tố có tính chất quyết định, chi phối sức mạnh quốc gia. Những yếu tố tinh thần này, theo tác giả đó chính là sự đoàn kết, tư tưởng, uy tín, văn hóa, lãnh đạo của một quốc gia và công luận quốc tế.
Có thể nói cùng với sự phát triển cả về lý luận lẫn thực tiễn trong quan hệ quốc tế thì những yếu tố tinh thần kể trên chính là một phần làm nên sức mạnh mềm – loại hình sức mạnh đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của chính trị quốc tế ngày nay. Tiếp đến là nghiên cứu Sức mạnh mềm của Việt Nam và ASEAN đối với Trung Quốc [Lê Vĩnh Trương, 2011]. Mặc dù nội dung của bài viết chủ yếu tập trung trình bày và phân tích các yếu tố làm nên sức mạnh mềm của Việt Nam và ASEAN, tác giả đã điểm qua khái niệm sức mạnh mềm dựa trên định nghĩa của Joseph Nye. Bên cạnh việc phân tích các yếu tố và đánh giá tác động của sức mạnh mềm, bài viết đã rút ra kết luận là cùng với tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, Việt Nam và ASEAN hoàn toàn có đủ sức mạnh mềm để đối trọng với sức mạnh tổng hợp từ Trung Quốc.
Một nghiên cứu khác trình bày khái lược về cơ sở lý luận của sức mạnh quốc gia là bài viết Sức mạnh quốc gia và sử dụng sức mạnh đó của Trung Quốc [Lưu Thúy Hồng, 2015]. Trong bài viết, tác giả giới thiệu các khái niệm của sức mạnh quốc gia theo quan điểm của nhiều học giả khác nhau. Theo đó, sức mạnh quốc gia được xác định bao gồm sức mạnh cứng (vật chất), sức mạnh mềm (tinh thần) và sự kết hợp hiệu quả, linh hoạt cả hai loại hình sức mạnh này sẽ tạo thành sức mạnh thông minh. Bài viết cũng đã sử dụng Trung Quốc như một trường hợp nghiên cứu điển hình để phân tích thực tiễn vận dụng các loại hình sức mạnh của quốc gia này trong quá trình trỗi dậy qua hơn một thập kỷ đầu của thế kỉ XXI.
Ngoài ra, công trình nghiên cứu Sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc – Tác động tới Việt Nam và một số nước Đông Á [Nguyễn Thị Thu Phương, 2016] đã bàn 19 về lý luận sức mạnh mềm nói chung và sức mạnh mềm văn hóa nói riêng. Theo đó, lý luận sức mạnh mềm được nhìn nhận từ các nghiên cứu tại phương Tây đến học thuyết sức mạnh mềm của Joseph Nye. Tác giả phân tích các nguồn của sức mạnh mềm theo quan điểm của Nye, đồng thời nhấn mạnh các giải thích của Nye đối với những hiểu lầm về sức mạnh mềm. Đối với lý luận sức mạnh mềm văn hóa, nhóm tác giả đã trình bày về khái niệm và nội hàm sức mạnh mềm văn hóa, vị trí và nguyên tắc sử dụng sức mạnh mềm văn hóa trong mối quan hệ với sức mạnh tổng hợp quốc gia với bốn nguyên tắc cụ thể.
Trong bài viết Quảng bá “sức mạnh mềm” của Việt Nam trong xu thế hội nhập – liên hệ kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc [Phan Thị Anh Thư, 2017] lý thuyết về sức mạnh mềm của Joseph Nye được tác giả sử dụng như khung cơ sở lý luận để phân tích về vai trò của sức mạnh mềm của Nhật Bản và Hàn Quốc. Tác giả đã phân tích và nhận định những sự tương đồng nhất định trong nội hàm của học thuyết sức mạnh mềm với quan điểm, phương châm đối ngoại của Việt Nam. Đặc biệt là quan điểm chú trọng phát triển quan hệ hợp tác song phương, đa phương, hướng đến nền hòa bình và thịnh vượng chung. Trên cơ sở tương đồng đó, tác giả liên hệ một số bài học kinh nghiệm về quảng bá sức mạnh mềm của Nhật Bản và Hàn Quốc cho Việt Nam.
Nghiên cứu gần đây nhất về sức mạnh mềm phải kể đến Vai trò của quyền lực mềm quốc gia trong quan hệ quốc tế hiện nay và những tác động đến Việt Nam [Nguyễn Thái Giao Thủy, 2019]. Trong bài viết này, thông qua việc phân tích vai trò của văn hóa trong các hoạt động cụ thể, tác giả đã đánh giá những tác động đến Việt Nam trên các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị. Từ đó tác giả nhấn mạnh việc sử dụng văn hóa như một công cụ để nâng cao vị thế của quốc gia. Mặc dù đã tổng hợp và phân tích chi tiết vai trò cũng như tác động của quyền lực mềm nhưng bài viết chưa trình bày cơ sở lý luận về quyền lực mềm.
Như vậy, mặc dù đã có những bài viết của các học giả trong nước về sức mạnh quốc gia nói chung và sức mạnh mềm nói riêng, nhưng có thể nói cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có công trình hay tài liệu nghiên cứu nào trình bày về sức mạnh mềm một cách toàn diện và có hệ thống. 20 Về các công trình nghiên cứu trên thế giới, khái niệm “sức mạnh” hay “quyền lực” đã được nhiều học giả đề cập đến, tiêu biểu là các nghiên cứu Truth and Power (Chân lý và Quyền lực) [Hans J. Morgenthau, 1970], Power and Wealth: The Political Economy of International Power (Quyền lực & Thịnh vượng: Kinh tế chính trị học trong quyền lực quốc tế) [Klaus Korr, 1973] hay World power assessment (Đánh giá quyền lực thế giới) [Ray S. Trừ nghiên cứu của Klaus Korr đã bước đầu phân chia ra hai loại sức mạnh trong quan hệ quốc tế là sức mạnh ảnh hưởng ép buộc và sức mạnh ảnh hưởng không ép buộc – một loại hình sức mạnh mềm.
Trong các nghiên cứu còn lại, khái niệm “sức mạnh” được nhắc đến chủ yếu là một sức mạnh tổng hợp bao gồm lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên, dân số, kinh tế, quân sự, quan hệ đối ngoại, văn hóa, khoa học công nghệ… Do đó, khái niệm về “sức mạnh mềm” trong các tài liệu này còn chưa thật sự rõ nét. Trong nghiên cứu Theory of International Politics (Lý thuyết chính trị quốc tế) [Kenneth Waltz, 1979], nhà nghiên cứu thuộc trường phái Tân Hiện thực đã cung cấp cơ sở cho nhiều cấp độ nghiên cứu và phân tích về vai trò của sức mạnh trong quan hệ quốc tế, bản chất của trò chơi, nguồn gốc của các lợi ích quốc gia, khả năng hợp tác. Cũng trong nghiên cứu này, sức mạnh mềm được tiếp cận một cách cụ thể hơn khi Waltz cho rằng cách hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu sau cùng của quốc gia không phải lúc nào cũng thông qua việc thực thi sức mạnh vật chất. Năm 1990, trong cuốn sách có tựa đề Bound to Lead: The Changing Nature of American Power (Ràng buộc để dẫn dắt: bản chất đang thay đổi của sức mạnh Mỹ), [Joseph Nye, 1990], giáo sư Đại học Havard là Joseph Nye đã khái quát sức mạnh mềm một cách đầy đủ hơn và rõ ràng hơn.
Sau đó, khái niệm sức mạnh mềm được ông phát triển thêm vào năm 2004, trong cuốn Soft Power: The Means to Success in World Politics (Sức mạnh mềm: Phương tiện để thành công trong chính trị thế giới). Theo Joseph Nye, “sức mạnh mềm là khả năng đạt được điều mình muốn thông qua sự hấp dẫn thay vì ép buộc. Nó xuất phát từ sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách của một quốc gia” [Joseph Nye, 2004]. Năm 2008, lý luận về sức mạnh mềm tiếp tục được Joseph Nye bổ sung trong cuốn The 21 Powers to Lead (Sức mạnh để dẫn dắt) [Joseph Nye, 2008] và hoàn thiện hơn vào năm 2011 trong cuốn sách thứ 4 của ông về sức mạnh mềm: The Future of Power (Tương lai của quyền lực).
Sức mạnh mềm lúc này được định nghĩa đầy đủ là “khả năng ảnh hưởng tới người khác thông qua các công cụ kết hợp hợp tác về khung chương trình nghị sự, thuyết phục và gợi ra sức thu hút tích cực để có được những kết quả mong đợi” [Joseph Nye, 2011].