Quá Trình Đấu Tranh Giữ Gìn Và Xây Dựng Lực Lượng Cách Mạng Ở Nam Bộ (1954 - 1960)

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng tiến tới đồng khởi ở nam bộ 1954 1960, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

302
5
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. Một số khái niệm sử dụng trong luận án

1.2. Lực lượng cách mạng

1.3. Đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng

1.4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.5. Nhóm công trình khoa học chung về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam

1.6. Nhóm công trình khoa học về cuộc kháng chiến chống Mỹ ở các địa phương Nam Bộ

1.7. Nhóm công trình khoa học đề cập trực tiếp đến hoạt động đấu tranh giữ gìn, xây dựng lực lượng cách mạng và Đồng Khởi tại Nam Bộ

1.8. Nội dung kế thừa và những vấn đề đặt ra cho luận án

1.9. Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

1.10. Các nội dung luận án kế thừa

1.11. Những vấn đề luận án cần giải quyết

2. CHƯƠNG 2: NHÂN DÂN NAM BỘ ĐẤU TRANH GIỮ GÌN VÀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG TRONG NHỮNG NĂM 1954 - 1959

2.1. Âm mưu, hành động của Mỹ - Diệm và tình hình lực lượng cách mạng ở Nam Bộ sau Hiệp định Genève

2.2. Bối cảnh lịch sử và âm mưu, hành động của Mỹ - Diệm

2.3. Tình hình lực lượng cách mạng ở Nam Bộ

2.4. Nhân dân Nam Bộ đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève 1954 và giữ gìn lực lượng cách mạng trong những năm 1954 - 1956

2.5. Đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định Genève

2.6. Đấu tranh chống chính quyền Sài Gòn khủng bố và giữ gìn lực lượng cách mạng

2.7. Quân và dân Nam Bộ đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng trong những năm 1957 - 1959

2.8. Đấu tranh chống khủng bố, đàn áp, đẩy mạnh công tác binh vận và xây dựng thế trận lòng dân

2.9. Tái lập các căn cứ địa và lực lượng vũ trang cách mạng

2.10. Phối hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và binh vận để xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng

2.11. Những hình thức và phương cách đấu tranh độc đáo, sáng tạo của quân và dân Nam Bộ trong quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng những năm 1954 - 1959

2.12. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG TIẾN TỚI ĐỒNG KHỞI Ở NAM BỘ (1959 - 1960)

3.1. Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam

3.2. Tình thế cách mạng ở Nam Bộ năm 1959

3.3. Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng và chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ

3.4. Phát triển lực lượng cách mạng chuẩn bị Đồng Khởi

3.5. Củng cố, xây dựng các tổ chức Đảng và đoàn thể cách mạng

3.6. Phát triển lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đẩy mạnh công tác binh vận

3.7. Phong trào Đồng Khởi ở Nam Bộ

3.8. Đồng Khởi ở Bến Tre và các tỉnh miền Trung, Tây Nam Bộ

3.9. Chiến thắng Tua Hai và phong trào Đồng Khởi ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ

3.10. Tác động và ảnh hưởng của phong trào Đồng Khởi ở Nam Bộ đến các địa phương miền Nam Việt Nam

3.11. Những hình thức và phương cách đấu tranh độc đáo, sáng tạo trong phong trào Đồng Khởi ở Nam Bộ

3.12. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH GIỮ GÌN VÀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG, TIẾN TỚI ĐỒNG KHỞI Ở NAM BỘ (1954 - 1960)

4.1. Nam Bộ là nơi quân đội và chính quyền Sài Gòn đánh phá khốc liệt nhất, lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề nhất

4.2. Nam Bộ là nơi tiếp xúc sớm chủ trương đấu tranh giữ gìn, xây dựng lực lượng cách mạng và đấu tranh vũ trang của Đảng Lao động Việt Nam

4.3. Thành phần tham gia đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng đa dạng, gồm có nông dân, công nhân, trí thức, học sinh, sinh viên và cả binh lính các đảng phái, giáo phái

4.4. Hình thức đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng phong phú từ đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, binh vận đến các cuộc đấu tranh của lực lượng báo chí công khai ở Sài Gòn

4.5. Đỉnh cao của quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng là phong trào Đồng Khởi, góp phần tạo ra bước chuyển lớn trên chiến trường miền Nam Việt Nam

4.6. Góp phần vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đồng thời hạn chế tổn thất lực lượng cách mạng khi chính quyền Sài Gòn không thi hành Hiệp định Genève 1954

4.7. Tập hợp đông đảo các lực lượng gồm nông dân, công nhân, trí thức, binh lính các giáo phái vào một mặt trận chung chống Mỹ - Diệm

4.8. Tạo ra được một hệ thống căn cứ địa làm nơi đứng chân để bảo vệ, phát triển lực lượng và là hậu phương cách mạng tại chỗ cho chiến tranh cách mạng ở Nam Bộ

4.9. Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện để phát triển lực lượng vũ trang 3 thứ quân, góp phần đưa cách mạng miền Nam chuyển từ khởi nghĩa sang chiến tranh cách mạng

4.10. Đồng Khởi ở Nam Bộ góp phần tạo nên cao trào đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và binh vận kết hợp trên toàn miền Nam Việt Nam

4.11. Hạn chế của quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng, tiến tới Đồng Khởi ở Nam Bộ (1954 - 1960)

4.12. Sau Hiệp định Genève 1954, một số địa phương Nam Bộ chưa nhận thức đầy đủ, kịp thời bản chất, âm mưu thủ đoạn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn

4.13. Trong những năm 1954 - 1956, chú trọng đấu tranh chính trị mà thiếu chủ động xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng

4.14. Từ cuối năm 1956 trở về sau, Xứ ủy Nam Bộ chậm tham mưu, thiếu chủ động đề ra những nội dung đấu tranh cho phù hợp, còn bị động chờ đợi chủ trương của cấp trên

4.15. Trong những năm 1957 - 1959, lúc chuyển lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang tự vệ chưa thực hiện đồng loạt trong toàn vùng

4.16. Khi phát động Đồng Khởi chỉ tập trung chủ yếu ở địa bàn nông thôn mà chưa chú trọng địa bàn đô thị nhằm tạo ra sức mạnh cộng hưởng trên toàn Nam Bộ

4.17. Một số bài học kinh nghiệm

4.18. Luôn đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận thức chính xác bản chất, âm mưu của kẻ thù và đề ra đường lối đấu tranh kịp thời, phù hợp với thực tiễn

4.19. Phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng cách mạng, trong đó chú trọng vai trò của “đội quân tóc dài”

4.20. Chủ động, linh hoạt, sáng tạo sử dụng kết hợp nhiều biện pháp đấu tranh để giữ gìn, xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng

4.21. Kết hợp xây dựng lực lượng vũ trang với xây dựng các căn cứ địa và xây dựng thế trận lòng dân

4.22. Luôn giữ vững tinh thần tiến công cách mạng, không ngừng phát triển thế tiến công

4.23. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng ở Nam Bộ 1954 1960

Quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng ở Nam Bộ từ năm 1954 đến 1960 là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ. Sau Hiệp định Genève 1954, tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam trở nên căng thẳng. Chính quyền Sài Gòn dưới sự hỗ trợ của Mỹ đã tiến hành nhiều biện pháp đàn áp, khủng bố nhằm tiêu diệt các phong trào cách mạng. Trong bối cảnh đó, quân và dân Nam Bộ đã phải nỗ lực không ngừng để bảo vệ và phát triển lực lượng cách mạng của mình.

1.1. Bối cảnh lịch sử và tình hình lực lượng cách mạng ở Nam Bộ

Sau Hiệp định Genève, lực lượng cách mạng ở Nam Bộ phải đối mặt với nhiều thách thức từ chính quyền Sài Gòn. Chính quyền này đã thực hiện nhiều chính sách đàn áp nhằm tiêu diệt các phong trào cách mạng. Tình hình này đã tạo ra một bối cảnh khó khăn cho việc giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng.

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của quá trình đấu tranh

Mục tiêu chính của quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng là bảo vệ quyền lợi của nhân dân và chống lại sự đàn áp của chính quyền Sài Gòn. Nhiệm vụ đặt ra là xây dựng một mặt trận thống nhất, tập hợp mọi lực lượng để đấu tranh hiệu quả.

II. Những thách thức trong quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng

Trong giai đoạn 1954 - 1960, quân và dân Nam Bộ đã phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Sự đàn áp khốc liệt từ chính quyền Sài Gòn đã khiến cho lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề. Tuy nhiên, những thách thức này cũng đã thúc đẩy sự sáng tạo trong phương pháp đấu tranh của quân và dân địa phương.

2.1. Đàn áp và khủng bố từ chính quyền Sài Gòn

Chính quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều biện pháp khủng bố nhằm tiêu diệt các phong trào cách mạng. Điều này đã tạo ra một môi trường đầy khó khăn cho việc giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng.

2.2. Sự phân hóa trong lực lượng cách mạng

Sự phân hóa trong lực lượng cách mạng cũng là một thách thức lớn. Các nhóm khác nhau có những mục tiêu và phương pháp khác nhau, điều này đôi khi dẫn đến sự thiếu thống nhất trong đấu tranh.

III. Phương pháp đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng hiệu quả

Quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng ở Nam Bộ đã áp dụng nhiều phương pháp sáng tạo và hiệu quả. Những phương pháp này không chỉ giúp bảo vệ lực lượng mà còn tạo ra sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh chống lại chính quyền Sài Gòn.

3.1. Đấu tranh chính trị và xã hội

Đấu tranh chính trị là một trong những phương pháp quan trọng trong việc giữ gìn lực lượng cách mạng. Các phong trào đấu tranh đòi quyền lợi cho nhân dân đã thu hút được sự ủng hộ rộng rãi từ quần chúng.

3.2. Đấu tranh vũ trang và binh vận

Đấu tranh vũ trang cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lực lượng cách mạng. Các hoạt động binh vận đã giúp củng cố sức mạnh và tạo ra một thế trận vững chắc cho cuộc kháng chiến.

IV. Kết quả và ứng dụng thực tiễn từ quá trình đấu tranh

Quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng ở Nam Bộ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Những thành công này không chỉ góp phần vào phong trào Đồng Khởi mà còn để lại nhiều bài học quý giá cho các thế hệ sau.

4.1. Thành công trong việc tập hợp lực lượng

Quá trình đấu tranh đã giúp tập hợp được đông đảo các lực lượng, từ nông dân, công nhân đến trí thức, tạo ra một mặt trận thống nhất chống lại chính quyền Sài Gòn.

4.2. Bài học kinh nghiệm cho các thế hệ sau

Những kinh nghiệm từ quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng ở Nam Bộ có thể được vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.

V. Kết luận về quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng

Quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng ở Nam Bộ từ 1954 đến 1960 là một giai đoạn đầy cam go nhưng cũng rất hào hùng. Những nỗ lực của quân và dân Nam Bộ đã tạo ra những bước chuyển lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

5.1. Đánh giá tổng quan về quá trình đấu tranh

Quá trình đấu tranh này đã thể hiện rõ tinh thần kiên cường và sáng tạo của quân và dân Nam Bộ trong việc giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng.

5.2. Tương lai của lực lượng cách mạng ở Nam Bộ

Tương lai của lực lượng cách mạng ở Nam Bộ sẽ tiếp tục được xây dựng và phát triển dựa trên những bài học kinh nghiệm từ quá trình đấu tranh này.

08/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm sử dụng trong luận án 1. Lực lượng cách mạng LLCM ở Nam Bộ trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1960) bao gồm các lực lượng chính trị của quần chúng với các lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng. Trong lực lượng chính trị có sự tồn tại và phát triển của các tổ chức đoàn thể quần chúng nhân dân như thanh niên, các nông hội, hội phụ lão, phụ nữ, nhi đồng, các lực lượng của tôn giáo, các đảng phái… và các cơ sở, tổ chức cách mạng bí mật ở Nam Bộ được “cài lại” hoạt động sau Hiệp định Genève 1954.

Lực lượng vũ trang cách mạng bao gồm quân chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích tồn tại và phát triển dưới nhiều hình thức phong phú và được hình thành ban đầu từ những Đội chống trộm cướp, Đội dân canh chống cướp, các lực lượng vũ trang giáo phái ly khai, các đội vũ trang tuyên truyền… về sau được Xứ ủy Nam Bộ (XUNB) củng cố, xây dựng, phát triển lên với quy mô lớn, tinh nhuệ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đấu tranh cách mạng. Đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng Khái niệm “đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng” được trình bày trong luận án này là một quá trình đấu tranh mạnh mẽ của quân và dân Nam Bộ để bảo tồn các LLCM vốn có trước đó được cách mạng “cài lại” hoạt động ở Nam Bộ kể từ khi Hiệp định Genève 1954 được ký kết (gồm các tổ chức, cơ sở Đảng, các hội, đoàn thể quần chúng cách mạng và kể cả đội ngũ cán bộ, đảng viên…) cũng như quá trình tái xây dựng LLCM ở Nam Bộ để phù hợp với tình hình đấu tranh cách mạng mới. Quá trình đấu tranh giữ gìn và xây dựng LLCM diễn ra trong khoảng thời gian từ sau Hiệp định Genève 1954 cho đến khi nổ ra phong trào Đồng Khởi những năm 1959 - 1960 trên phạm vi toàn Nam Bộ. Nội hàm khái niệm này không chỉ đề cập đến quá trình đấu tranh của quân và dân 10 Nam Bộ để giữ gìn, củng cố các tổ chức, cơ sở Đảng mà còn bao gồm cả quá trình tiến hành xây dựng và phát triển LLCM ở địa phương.

Đồng Khởi Đồng Khởi là quá trình quân và dân miền Nam nói chung và ở Nam Bộ nói riêng những năm 1959 - 1960 “đồng loạt nổi dậy, đồng loạt khởi nghĩa” đấu tranh giành chính quyền, đánh thẳng vào hệ thống kìm kẹp thống trị của CQSG ở cơ sở với quy mô lớn, liên tục, rộng khắp và đạt được những thắng lợi lớn, giành quyền làm chủ ở địa phương, khiến cho quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ở cơ sở khập khiểng, tê liệt. Khái niệm “Đồng Khởi” chỉ thực sự xuất hiện sau cuộc Đồng Khởi của quân và dân tỉnh Bến Tre đầu năm 1960 và từ đó về sau trở thành thuật ngữ chung được sử dụng chính thức trong các văn kiện, chỉ đạo của Trung ương Đảng. Phong trào Đồng Khởi những năm 1959 - 1960 là một quá trình đấu tranh cách mạng diễn ra liên tục, có quy mô rộng lớn, với khí thế đấu tranh mạnh mẽ. Đó là các cuộc nổi dậy từng phần chống lại sự đàn áp và thống trị của CQSG ở các địa phương của miền Nam và mức độ giành thắng lợi cũng khác nhau.

“Đó là những cuộc khởi nghĩa từng phần ở nông thôn miền Nam trong điều kiện chống chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. Nó đã nổ ra trong lúc lực lượng quân sự của đối phương (CQSG) còn khá mạnh, lực lượng vũ trang của cách mạng còn rất nhỏ bé và chính quyền bên trên của VNCH chưa bị đụng chạm. Trong điều kiện đó, muốn giành thắng lợi và duy trì thắng lợi những cuộc “Đồng Khởi” phải diễn ra trên một phạm vi rộng lớn gồm nhiều tỉnh. Đương nhiên, điều này không có nghĩa là những cuộc “Đồng Khởi” ấy nhất loạt nổ ra và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn trên toàn miền Nam mà trái lại diễn ra nhiều đợt.

Những cuộc “Đồng Khởi” - những cuộc khởi nghĩa từng phần cuối năm 1959 đầu năm 1960 tuy diễn ra trên một địa bàn khá rộng cả ở miền núi, cả ở đồng bằng nhưng đó vẫn là các đợt khởi nghĩa cục bộ lớn đầu tiên chứ không phải là đợt khởi nghĩa từng phần duy nhất” (Cao Văn Lượng, Phạm Quang Toàn và Quỳnh Cư, 1981, tr. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nhóm công trình khoa học chung về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam 1. Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Quyển sách Việt Cộng, tổ chức và chiến thuật của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam của Douglas Eugene Pike được Massachusetts Institute of Technology xuất bản đầu tiên năm 1966.

Công trình đề cập đến quá trình hình thành, phát triển của LLCM ở miền Nam, sự ra đời và hoạt động của quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Sách Hai nước Việt Nam: một bản phân tích chính trị và quân sự của tác giả Bernard B. Fall được Westview Press ấn hành năm 1984. Công trình này có nội dung khá phong phú, tác giả trình bày, phân tích, đánh giá về cuộc cách mạng ở miền Bắc Việt Nam; chiến dịch Điện Biên Phủ; quá trình khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH); quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục ở miền Bắc; sự nổi dậy ở miền Nam Việt Nam; mô tả về Ngô Đình Diệm; về quá trình thành lập và phát triển của VNCH; phân tích, đánh giá về những khoản viện trợ kinh tế thương mại của Mỹ cho CQSG; về sự thành lập và phát triển của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN).

Quyển Chính phủ Mỹ và chiến tranh Việt Nam, phần 1: 1945 - 1961 được in bởi Văn phòng Chính phủ Mỹ tại Washington năm 1984. Nội dung sách trình bày quá trình chính quyền Mỹ dính líu vào chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất; về “vai trò mới của Mỹ ở Việt Nam” sau khi người Pháp đại bại trong trận Điện Biên Phủ và rút quân đi; về quá trình Mỹ “thành lập khối SEATO” ở Đông Nam Á; quá trình “xây dựng quốc gia” mới; về tình trạng “Diệm đối đầu với các giáo phái và Washington đồng ý tìm kiếm một chính phủ mới” ở Nam Việt Nam; quá trình “Diệm củng cố quyền lực của mình”. Tác phẩm cũng đề cập đến sự viện trợ của Mỹ cho “nước Việt Nam mới” ở miền Nam Việt Nam; quá trình hợp tác giữa Mỹ và “nước Việt Nam mới” tiến hành chiến tranh phản cách mạng ở miền Nam; 12 phân tích sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm cũng như quá trình bắt đầu sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964. Tác giả Daniel Ellsberg trong cuốn Những bí mật của chiến tranh Việt Nam được NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 1985 đã “tiết lộ” những bí mật về quá trình xâm lược Việt Nam của chính quyền Mỹ.

Những âm mưu, thủ đoạn xâm lược phi nghĩa của các đời tổng thống Mỹ được tác giả công trình giải mật, vén bức màn bí mật về chiến tranh Việt Nam mà giới chức Lầu Năm Góc, Nhà Trắng “che giấu” trong nhiều năm. Quyển Việt Nam - một thiên lịch sử của tác giả Stanley Karnow trong bản ấn hành năm 1997 của NXB Penguin Books khái quát và phân tích cơ bản về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Những nội dung chính mà tác phẩm đề cập đến như những “di sản của Quốc gia Việt Nam”; “cuộc chiến tranh của người Pháp” ở Việt Nam; “những quan điểm của Mỹ”; “sự kết thúc chế độ của Diệm”; “các cam kết sâu sắc của Mỹ”; “sự hỗn loạn và những quyết định” trong chiến tranh Việt Nam; quá trình “đi đến chiến tranh của Johnson”; “sự leo thang” chiến tranh của Mỹ; “những tranh luận, ngoại giao, ngờ vực”; sự kiện “Tết Mậu Thân” ở chiến trường Nam Việt Nam và “cuộc chiến tranh của Nixon”… được tác giả nhìn nhận và phân tích khá sâu sắc. Cuốn hồi ký Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và những bài học kinh nghiệm về Việt Nam của Robert Strange McNamara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ được NXB Random House ấn hành 1995.

Trong tác phẩm này, McNamara thuật lại những sai lầm mà chính tác giả cũng như giới lãnh đạo của Mỹ mắc phải trong chiến tranh Việt Nam. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tổng kết những bài học kinh nghiệm đau xót mà chính quyền Mỹ cần phải rút ra và tránh trong tương lai nếu không muốn dẫm lên vết xe đổ ở Việt Nam. Trong cuốn Giải phẫu một cuộc chiến tranh được NXB Quân đội Nhân dân ấn hành lần thứ ba năm 2003, tác giả Gabrien Kolko khái quát về nguồn gốc của chiến tranh, sự can thiệp của chính quyền Mỹ vào Việt Nam và báo trước một 13 thất bại thảm hại của chính quyền Washington. Dựa trên những tư liệu mới và sự khai thác trong những năm quan sát ở Washington, Paris và những chuyến thăm Việt Nam, tác giả trình bày chi tiết, sâu sắc các đối tượng trong cuộc chiến tranh, đồng thời phân tích triển vọng của chiến lược chiến tranh hạn chế của Mỹ và lập luận những sự can thiệp của chính quyền Mỹ trong tương lai sẽ nhận được những kết quả tai hại giống như ở chiến tranh Việt Nam.

Quyển sách Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ và Việt Nam (1950 - 1975) của George C. Herring được NXB Công an Nhân dân ấn hành năm 2004. Nội dung sách trình bày cơ bản về cuộc chiến tranh Việt Nam trải qua năm đời tổng thống Mỹ mà cuối cùng không một ai thành công, đồng thời quyển sách cũng đề cập đến những sai lầm của chính quyền Mỹ trong chiến lược ngăn chặn toàn cầu. Năm 2010, NXB Đại học Kentucky xuất bản cuốn sách Việt Nam đã được giải mật: CIA và chống nổi dậy của tác giả Thomas L.

Việt Nam đã được giải mật là một tài liệu trình bày khá chi tiết về những nỗ lực của CIA để giúp các nhà chức trách miền Nam giành được sự ủng hộ, trung thành của nông dân Việt Nam và đàn áp Việt Cộng (các lực lượng cách mạng); những cam kết của CIA từ năm 1954 đến giữa năm 1972; về cơ quan và các đối tác của CIA. Ahern Jr cũng có những nhận định một cách toàn diện về vai trò của CIA trong việc bình định vùng nông thôn miền Nam Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ