Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Xây dựng phương tiện dạy học kỹ thật số sinh học lớp 6 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Khái niệm phương tiện dạy học [1] Phương tiện dạy học là các phương tiện được sử dụng trong qua trình dạy học, bao gồm các đồ dùng dạy học, các trang thiết bị kỹ thuật dùng trong dạy học, các thiết bị hỗ trợ và các điều kiện cơ sở vật chất khác. Theo Lotsklinbo: “PTDH là tất cả các phương tiện vật chất cần thiết giúp GV hay HS tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dục và giáo dưỡng ở các cấp học, ở các lĩnh vực, các môn học để có thể thực hiện được những yêu cầu của chương trình giảng dạy, để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo”.
PTDH là các phương tiện được sử dụng trong QTDH, bao gồm các đồ dùng dạy học, các trang thiết bị kỹ thuật dùng trong dạy học, các thiết bị hỗ trợ và các điều kiện cơ sở vật chất khác. Để đạt được mục đích trong quá trình dạy học, việc vận dụng các phương pháp dạy học không thể tách rời việc sử dụng các phương tiện dạy học, trong đó có các PTTQ. Phương tiện trực quan thuộc phạm trù phương pháp, vì ngoài nó ra phương pháp còn bao gồm theo nghĩa hẹp là cách thức hành động cụ thể, thủ pháp cụ thể trong dạy học và hình thức tổ chức dạy học. Do đó, khi nói đến phương pháp dạy học là nói đến PTTQ và cách thức sử dụng nó trong tất cả các khâu của quá trình dạy học.
Khái niệm phương tiện trực quan [1] PTTQ là khái niệm phụ thuộc khái niệm phương tiện dạy học. PTTQ được hiểu là một hệ thống bao gồm mọi dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình dạy - học với tư cách là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan về sự vật hiện tượng, làm cơ sở và tạo điều 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kiện thuận lợi cho việc lĩnh hội kiến thức, kỹ năng kỹ xảo về đối tượng đó cho học sinh. PTTQ là nguồn chứa đựng thông tin tri thức hết sức phong phú và sinh động, giúp học sinh lĩnh hội tri thức đầy đủ và chính xác, đồng thời giúp củng cố, khắc sâu, mở rộng, nâng cao và hoàn thiện tri thức. Qua đó rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo, phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, năng lực quan sát, phân tích tổng hợp, hình thành và phát triển động cơ học tập tích cực, làm quen với PP nghiên cứu khoa học.
Từ đó có khả năng vận dụng những tri thức đã học vào thực tiễn, giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. PTTQ là một công cụ trợ giúp đắc lực cho giáo viên trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học ở tất cả các khâu của quá trình dạy học.Nó không thể thiếu được trong quá trình vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học cụ thể, giúp GV trình bày bài giảng một cách tinh giảm nhưng đầy đủ, sâu sắc và sinh động, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh hiệu quả sáng tạo. Khái niệm đa phương tiện (Multimedia) [23] Đa phương tiện là một thuật ngữ gắn với CNTT, có thể hiểu “đa phương tiện là việc sử dụng nhiều phương tiện khác nhau để truyền thông tin ở các dạng như văn bản, đồ hoạ, hình ảnh (bao gồm cả hình tĩnh, hình động) và âm thanh, cùng với siêu liên kết giữa chúng với mục đích giới thiệu thông tin đến người nghe”. Phân loại PTTQ [6] Việc phân loại PTTQ hiện nay vẫn còn là một vấn đề phức tạp có nhiều ý kiến khác nhau.
Nếu dựa vào cấu tạo PTTQ có thể chia thành hai nhóm: Các PTTQ truyền thống. Các phương tiện nghe, nhìn. Theo Tô Xuân Giáp có thể phân loại PTTQ như sau: Các tài liệu trực quan là các vật thật trong tự nhiên, kĩ thuật, đời sống (các mẫu vật, các bộ sưu tập, các sản phẩm lao động. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các phương tiện phản ánh đẳng cấu các đối tượng và hiện tượng của thế giới hiện thực ( mô hình, maket, vật gỗ, tranh ảnh.
Các phương tiện để tái tạo các hiện tượng tự nhiên hoặc các sản phẩm lao động ( các dụng cụ thí nghiệm, hoá chất, máy móc. ) Các phương tiện mô tả đối tượng và hiện tượng bằng lời nói, bằng kí hiệu, bằng ngôn ngữ tự nhiên và nhân tạo ( sách giáo khoa, sách hướng dẫn, tài liệu tham khảo. Các phương tiện kĩ thuật để truyền tải thông tin. ( máy chiếu, băng hình, computer.
Trong dạy học sinh học, có thể phân loại các PTTQ như sau: 1- Các vật tự nhiên: mẫu sống, mẫu ngâm, mẫu nhồi, tiêu bản khô, tiêu bản hiển vi v. Các mẫu vật thật là nguồn cung cấp những hình tượng cụ thể, chính xác và gần gũi với học sinh về hình dạng, kích thước, màu sắc và cấu tạo ngoài. Song việc nghiên cứu cấu tạo trong, các cơ quan bộ phận nhỏ lại gặp khó khăn trong việc quan sát và phân biệt. 2- Các vật tượng hình: mô hình, tranh vẽ, ảnh, phim, phim đèn chiếu, phim video, phần mềm dạy học, sơ đồ, biểu đồ: - Mô hình: là những vật thay thế cho đối tượng nghiên cứu duới dạng các biểu tượng trực quan được vật chất hoá hoặc mô tả các cấu trúc, những hiện tượng, quá trình.
Mô hình còn cho phép mô tả sự vật, hiện tượng trong không gian ba chiều, có thể tĩnh hoặc động làm cho quá trình nhận thức được đầy đủ trực quan hơn. - Tranh, ảnh: Mô tả các sự vật, hiện tượng, cấu trúc, quá trình ở trạng thái tĩnh, có thể được chụp trực tiếp hoặc mô phỏng lại qua sơ đồ hình vẽ. - Băng, đĩa hình: Miêu tả sự vật, hiện tượng ở trạng thái động, diễn cảm chính xác và sống động. - Bản trong: là các hình ảnh, sơ đồ về cấu trúc, quá trình.
được ghi lên một bản trong, sau đó được chiếu lên màn hình qua máy chiếu Overhead. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - PMDH: có khả năng cung cấp thông tin dưới nhiều dạng khác nhau nhờ tích hợp được truyền thông đa phương tiện, như chứa được cả hình ảnh, âm thanh, phim vidio.có hiệu quả trực quan cao nhất. Các vật tượng hình giúp tạo điều kiện cho học sinh hình thành những biểu tượng về sự vật, hiện tượng mà trong điều kiện bình thường khó quan sát được. 3- Các bộ dụng cụ thí nghiệm, thực hành.
Vai trò của PTTQ [4] [6] PTTQ có vai trò quan trọng trong quá trình dạy - học, nó thay thế cho những sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà GV và HS không thể tiếp cận trực tiếp được, nó giúp cho GV phát huy được tất cả các giác quan của HS trong quá trình tiếp thu kiến thức, giúp cho HS nhận biết được quan hệ giữa các hiện tượng, các khái niệm, quy luật làm cơ sở cho việc rút ra những tri thức và sự vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế. Như vậy, nguồn tri thức HS thu nhận được trở nên đáng tin cậy và được nhớ lâu bền hơn. PTTQ làm cho việc giảng dạy trở nên cụ thể, dễ dàng hơn, làm tăng thêm khả năng tiếp thu những sự vật hiện tượng và các quá trình phức tạp mà trong điều kiện bình thường HS khó nắm bắt được. Nhờ đó nó rút ngắn thời gian giảng dạy, đồng thời việc lĩnh hội những kiến thức của HS lại diễn ra nhanh hơn.
Mặt khác, nó cũng giúp cho GV giảm nhẹ được lao động của mình trên lớp, do đó làm tăng thêm khả năng nâng cao chất lượng dạy học. PTTQ còn là phương tiện vật chất dễ dàng gây được sự chú ý và chiếm được tình cảm của HS hơn cả. Bằng việc sử dụng PTTQ, GV có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu tri thức mới cũng như hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo của HS. Ngày nay, sự truyền đạt thông tin tri thức cho người học không phải chỉ có mỗi hình thức dựa vào sự trình bày hay hướng dẫn của GV (dạy học có GV) mà còn có hình thức dạy học không phụ thuộc vào sự trình bày của GV 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó là hình thức dạy học từ xa hay dạy học chương trình hoá (Angolit hoá) và tự học thông qua sử dụng PMDH - (dạy học không có thầy giáo).
Tuy nhiên, ở những giai đoạn nhất định vẫn cần có sự tham gia của GV, mặc dù khác nhau ở hình thức tổ chức nhưng ở cả 2 kiểu dạy học này PTTQ đều có những tác động đặc biệt quan trọng đến kết quả cuối cùng của quá trình dạy học. Vai trò của PTTQ là hỗ trợ cho GV trên lớp, các PTTQ được thiết kế để có thể nâng cao và thúc đẩy việc học tập, lĩnh hội tri thức của HS và hỗ trợ đắc lực cho thầy giáo. Nhưng hiệu quả của chúng lại phụ thuộc nhiều vào khả năng sư phạm của thầy giáo. PTTQ cũng được sử dụng có hiệu quả trong trường hợp dạy học không có GV, đó là những sản phẩm nghiên cứu ứng dụng CNTT là những PMDH thông minh.
Nó có thể giúp cho HS tự học ở mọi nơi, mọi lúc; giúp cho HS tin tưởng vào khả năng nhận thức của mình trong quá trình học tập. Trong trường hợp này, nhiệm vụ dạy - học ta có thể hoàn toàn giao cho PMDH. Tuy vậy, không có nghĩa là công nghệ dạy học ngày càng phát triển sẽ có thể thay thế hoàn toàn công việc của thầy giáo. Các PMDH này có thể giúp cho GV trở thành những người tổ chức hoạt động nhận thức, điều hành việc học tập của HS một cách sáng tạo hơn.
Đối với trẻ em khuyết tật, thì PTTQ lại càng chiếm vị trí quan trọng, ví dụ trẻ em chậm phát triển trí tuệ cần có các khoá học được cấu trúc cao hơn tuỳ khả năng tiếp thu và tổ hợp các thông tin vào bộ nhớ có nhiều hạn chế. Chúng cần được cung cấp các thông điệp thuộc phạm vi của bài học được lặp đi lặp lại nhiều lần để chúng có thể phát triển các vấn đề đã được học. Còn các HS nghe kém và nhìn kém cần nhiều tư liệu học tập khác nhau. Phải tăng cường các phương tiện nghe cho các em nhìn kém hơn bình thường.