phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung Ở chƣơng này, chúng tôi sẽ hệ thống hóa các lý thuyết làm cơ sở nền tảng cho luận văn: Một số vấn đề cơ bản về ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ quảng cáo và quảng cáo mỹ phẩm, khái niệm và đặc trƣng của quảng cáo sản phẩm mỹ phẩm. Chƣơng 2: Biểu hiện hình thức của giao tiếp ngôn ngữ trong quảng cáo mỹ phẩm Dựa vào hệ thống hóa lý thuyết đã đƣợc khái quát ở chƣơng 1, chúng tôi đi vào khảo sát từ ngữ, cấu trúc cú pháp và các biện pháp trình bày trong 8 phƣơng tiện giao tiếp ngôn ngữ của các quảng cáo đã thu thập đƣợc. Qua đó nêu lên những hạn chế và những biện pháp để khắc phục khi sử dụng phƣơng tiện giao tiếp ngôn ngữ trong quảng cáo. Chƣơng 3: Biểu hiện hình thức của giao tiếp phi ngôn ngữ trong quảng cáo mỹ phẩm Trong chƣơng 3, chúng tôi sẽ tiến hành đi sâu phân tích phƣơng tiện giao tiếp phi ngôn ngữ dựa vào các hình thức biểu đạt: cỡ chữ, màu sắc, kiểu chữ và hình ảnh cũng nhƣ khả năng tạo ra sự liên tƣởng phong phú, tác động sâu sắc đến cảm quan của ngƣời tiêu dùng.
Chúng tôi cũng đã nêu rõ những hạn chế thƣờng gặp của các quảng cáo mỹ phẩm. Qua đó chúng tôi nêu ra những biện pháp sử dụng phƣơng tiện giao tiếp phi ngôn ngữ. 9 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Một số vấn đề về ngôn ngữ báo chí Đối với ngôn ngữ báo chí thì luôn dùng những ngôn từ chính xác, dễ hiểu nhƣng phải thẳng thật, lý luận đanh thép, hƣớng thẳng đến nội dung cần truyền đạt đến ngƣời đọc.
Chính vì vậy, nhà báo là những ngƣời rất nhạy bén và chắc hẳn là những ngƣời am hiểu về ngôn ngữ một cách rõ nét nhất. Khái niệm về ngôn ngữ báo chí Có thể thấy nghiên cứu thực tế sử dụng ngôn ngữ trên các tác phẩm báo chí cụ thể mà có nhiều ý kiến về khái niệm ngôn ngữ báo chí. Một trong số đó không thể không kể đến Phạm Thành Hƣng. Theo “Từ điển thuật ngữ báo chí truyền thông” của Phạm Thành Hƣng: “Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ đặc trưng của quá trình truyền tải thông tin báo chí.
Báo in truyền thống bao gồm nhiều thể loại: tin tức, tường thuật, phóng sự, phỏng vấn, bình luận… mỗi thể loại lại có những yêu cầu về ngôn ngữ riêng, phù hợp với đặc điểm truyền thông của thể loại. Sự đa dạng của thể loại dẫn tới sự đa dạng của ngôn ngữ báo chí. Mặt khác, khái niệm ngôn ngữ báo chí được xác lập chủ yếu trong sự khu biệt với khái niệm ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ đời sống tự nhiên. Trong tương quan so sánh đó, nếu đặc trưng của ngôn ngữ văn học là tính nghệ thuật và hiệu quả thẩm mỹ, thì đặc trưng của ngôn ngữ báo chí là tính chính xác, hàm súc khách quan và hiệu quả truyền thông tối đa” [15;tr.
Ngôn ngữ báo chí đã đƣợc hiểu theo hai mặt. Một mặt nhƣ là tổng thể các ngôn ngữ thể loại dùng chung cho các thể loại báo chí (tin tức, tƣờng thuật, phóng sự, phỏng vấn, xã luận,…) và trong mỗi thể loại đó lại có những quy định, những yêu cầu đặc trƣng, phù hợp với đặc điểm truyền thông của thể loại. Sự đa dạng của ngôn ngữ báo chí cũng xuất phát từ sự đa dạng thể 10 loại này mà ra. Đối với nghĩa thứ hai, chúng ta thƣờng thấy ngôn ngữ báo chí đƣợc xác lập chủ yếu trong sự tƣơng quan khác biệt với ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ đời sống tự nhiên.
Ngôn ngữ báo chí là việc dùng ngôn từ để đƣa thông tin các sự kiện, tin tức báo chí tới độc giả. Ngôn ngữ này thƣờng đƣợc viết bằng ngữ câu từ đanh thép, có tính chất báo chí, lời văn nghiêm túc, lý luận sắc bén để truyền tải thông tin một cách trung thực, lập luận sắc bén nhất đến bạn đọc. Vậy ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ đƣợc ngƣời viết lựa chọn để thể hiện nội dung bài báo, ngôn ngữ đó phải đảm bảo chức năng thông tin và chức năng tác động. Đặc điểm của ngôn ngữ báo chí Trong lĩnh vực báo chí, ngôn ngữ báo chí có vai trò rất quan trọng trong việc truyền tải thông tin, là phƣơng tiện để chạm đến trái tim của ngƣời đọc, nó quyết định tác phẩm của bạn có đạt hiệu quả hay không.
Sau đây là những đặc điểm cơ bản cần phải có trong ngôn ngữ báo chí. Những đặc điểm về loại hình của ngôn ngữ báo chí Ngôn ngữ sự kiện là đặc điểm loại hình quan trọng nhất của ngôn ngữ báo chí. Với nội dung này, chúng ta thấy ngay sự khác biệt rõ rệt giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ báo chí. Văn học sử dụng ngôn ngữ hình tƣợng dựa trên phép hƣ cấu để phản ánh.
Điều đó có nghĩa là trên cơ sở cái thực để tạo ra cái hƣ. Nhà văn có quyền tƣởng tƣợng, có quyền tạo ra những gì mình muốn. Hình tƣợng nghệ thuật là sản phẩm hoàn toàn của chủ quản nhà văn. Bởi thế trong cuộc đời thật không có ai giống hệt trăm phần trăm nhƣ các nhân vật trong tiểu thuyết.
Không tìm đâu ra ai đó trong cuộc sống thực xung quanh ta lại có một lý lịch, một nhân cách, một tính cách, một cuộc sống… hoàn toàn giống với Thúy Kiều của Nguyễn Du, chị Dậu của Ngô Tất Tố, Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng v.v… 11 Một hình tƣợng nghệ thuật càng chân thật khi nó không giống một nguyên bản nào đó ở ngoài đời nhƣng ngƣời đọc luôn tìm thấy bóng dáng nhiều ngƣời ở trong đó. Bởi thế, nhà phê bình văn học Nga Belinxki thƣờng nói đó là ngƣời lạ quen biết. Còn nhà báo, chỉ đƣợc quyền nói cái có thật mà độc giả, khán giả, thính giả đều cảm nhận đƣợc ngay trong cuộc sống xung quanh họ. Nhà báo không đƣợc bịa ra sự thật hay tƣởng tƣợng ra sự thật.
Đồng thời cái có thật mà mình phản ánh phải để nguyên dạng chứ không đƣợc thêm bớt hay tô vẽ. Sự thêm bớt hay tô vẽ vào cái sự thật của cuộc đời chỉ khiến tác phẩm của mình thiếu sự thuyết phục. Tóm lại, nhà báo chỉ có quyền thuật lại mà không đƣợc chế tác ra nhƣ ngƣời xƣa thƣờng nói: Thuật nhi bất tác. Một khi chúng ta tôn trọng cái thật, các nguyên dạng thì ít nhất chúng ta mới thể hiện đƣợc là ngƣời quan sát trung thực các sự kiện và là ngƣời phản ánh các dƣ luận của xã hội.
Sự kiện hiện hữu là sự kiện đang diễn ra trong cuộc sống hiện tại (nhƣ chống tham nhũng, chống tệ nạn xã hội…), đang là vấn đề thời sự (quy chế tuyển sinh, ùn tắc giao thông…) là vấn đề đƣợc xã hội quan tâm (chống đói nghèo, tôn trọng pháp luật…). Tóm lại, đấy là chuyện của ngày hôm nay. Khái niệm hiện hữu có thể mở rộng với những sự kiện của ngày hôm qua, thậm chí cả của quá khứ lịch sử xa xôi và cả những sự kiện của ngày mai (tƣơng lai) nếu đặt tất cả những sự kiện ấy vào ngày hôm nay, chúng vẫn có giá trị thời sự, vẫn có giá trị hiện hữu. Đây là nội dung rất quan trọng của đặc điểm ngôn ngữ sự kiện.
Nhà báo bao giờ cũng ham muốn viết lên sự thật, hơn thế, toàn bộ sự thật. Đó là ham muốn chính đáng nhƣng lại là điều bất khả kháng không chỉ đối với ngƣời làm báo mà đối với cả nhân loại. Khi chúng ta theo dõi, quan sát một sự kiện ở một thời điểm nào đấy thì chúng ta mới chỉ biết đến một mặt vận động của sự kiện. 12 Nói tóm lại, ngôn ngữ sự kiện là phƣơng tiện duy nhất để phản ánh của báo chí, đồng thời là tiêu chí khu biệt với các ngôn ngữ khác.
Ngôn ngữ sự kiện bao giờ cũng đƣợc nhìn nhận trong quy trình vận động của sự kiện, do đó cần chú ý tới mối quan hệ tƣơng tác giữa ba nội dung của ngôn ngữ sự kiện. Những mối quan hệ của ngôn ngữ báo chí Ngôn ngữ báo chí luôn thể hiện đồng thời trong ba mối quan hệ sau đây: quan hệ phản ánh, quan hệ đối xứng và quan hệ liên tƣởng. Trong ba mối quan hệ trên thì quan hệ phản ánh là quan hệ bao trùm, mang tính chất bắt buộc. Quan hệ này thông qua hai quan hệ sau để thực hiện chức năng phản ánh.
Quan hệ phản ánh là quan hệ tạo ra đƣợc sự trùng khớp giữa mô hình hiện thực với mã ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí. Quan hệ phản ánh đòi hỏi tin, bài báo giờ cũng phải trung thực, chính xác, không mâu thuẫn. Quan hệ đối xứng là quan hệ tạo ra sự hài hòa, đối xứng hoặc đối lập giữa mô hình hiện thực với mã ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí. Đây là một sự cụ thể hóa quan hệ phản ánh.
Thông thƣờng, ngƣời ta vi phạm quan hệ phản ánh dƣới dạng quan hệ đối xứng. Quan hệ liên tƣởng tùy thuộc vào quan hệ trên. Nếu phản ánh đúng, đối xứng đúng thì liên tƣởng đúng và ngƣợc lại. Quan hệ liên tƣởng là quan hệ tác động hai chiều: chiều nhà báo và chiều ngƣời nhận tin.
Đối với nhà báo thì đây là những chuẩn mực giúp cho mình lựa chọn những câu chữ, cách diễn đạt, cấu trúc tin, bài nhƣ thế nào để hƣớng sự liên tƣởng của độc giả, khán giả, thính giả theo chủ đích của mình, không tạo ra những liên tƣởng có hại cho bài báo. Đối với ngƣời nhận tin, quan hệ này có tác động nhƣ một ngƣời kiểm tra bài báo. Tóm lại, quan hệ liên tƣởng tạo ra sự hình dung, suy nghĩ do sự đối chiếu giữa hiện thực với tin, bài cả ở ngƣời nhận tin lẫn ngƣời viết tin. Ở 13 ngƣời viết, nhờ sự đối chiếu vấn đề định thông tin, câu chữ định lựa chọn,… với hoàn cảnh xuất hiện (không gian – thời gian) mà hiệu quả phản ánh đƣợc nâng cao lên, phát huy đƣợc kết quả mong muốn.
Ba quan hệ trên diễn ra một cách đồng thời và khi viết tất cả đều quy chiếu vào nó. Hai quan hệ đầu chỉ có một chiều tác động: chiều ngƣời viết. Quan hệ thứ ba có cả hai chiều tác động: ngƣời viết và ngƣời nhận. Ba mối quan hệ này có thể xem nhƣ một phƣơng pháp đặc thù của ngôn ngữ báo chí.
Quảng cáo và ngôn ngữ quảng cáo 1. Khái niệm về quảng cáo Quảng cáo (advertisement) bắt nguồn từ tiếng Latinh với nghĩa là thu hút sự chú ý.