CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Khái quát những vấn đề lý luận về phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng 1. Khái niệm phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Trong pháp luật về tố tụng dân sự (TTDS), mỗi hoạt động tố tụng đều được quy định bởi từng phương thức – cách thức, phương pháp thực hiện cụ thể tại các điều luật. Các thuật ngữ pháp lý về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng tuy khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau.
Đối với thuật ngữ văn bản tố tụng (VBTT), trước hết văn bản được hiểu là “bản viết hoặc in, mang nội dung là những 1 gì cần được ghi để lưu lại làm bằng”. Trong lĩnh vực TTDS, các VBTT mang những điểm đặc trưng so với các loại văn bản khác. VBTT là các văn bản “đều do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới hình thức văn bản theo trình tự, thủ 2 tục mà pháp luật quy định” , trong đó chứa đựng những quy định cũng như những thông tin liên quan đến các chủ thể khi tham gia vào quá trình tố tụng. Thuật ngữ “cấp” đã được định nghĩa khái quát là việc “giao cho hưởng, giao 3 cho toàn quyền sử dụng”.
Như vậy, cấp VBTT là một hoạt động mà cá nhân, cơ quan có thẩm quyền giao cho cá nhân, tổ chức có liên quan VBTT để họ được toàn quyền sử dụng tùy theo mục đích khác nhau phù hợp với quy định của pháp luật. Việc buộc phải nhận văn bản và tuân theo nội dung văn bản không được đề cập đến đối với thuật ngữ này. Do đó, khi được cấp VBTT, người nhận có nhận VBTT hay không không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ việc. Theo nghĩa tổng quát, tống đạt là việc “chuyển đến đương sự giấy tờ của cơ 4 quan hành pháp”.
Về mặt pháp lý, tống đạt là “việc chuyển các giấy tờ đến tay người nhận, chuyển đến đương sự giấy tờ cần thiết của cơ quan tư pháp. […] Việc tống đạt được tiến hành theo thủ tục luật định, đảm bảo cho những người liên quan nhận được tài liệu đúng thời hạn. Cụ thể, tài liệu được giao trực tiếp đến người nhận 1 Viện Ngôn ngữ học (2019), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr. 2 Lâm Vương Mỹ Linh (2015), Hoạt động tống đạt văn bản theo pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
3 Viện Ngôn ngữ học (2019), sđd (1), tr. 4 Viện Ngôn ngữ học (2019), sđd (1), tr. 11 hoặc thông qua người đại diện hợp pháp của họ. Việc giao nhận này có thủ tục kí 5 giao nhận và có thể có bên thứ ba làm chứng”.
Tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP) đã đưa ra định nghĩa về tống đạt “là việc thông báo, giao nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan”. Từ đó, có thể rút ra được định nghĩa về tống đạt VBTT như sau: Tống đạt VBTT là hoạt động của cá nhân, tổ chức, cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc chuyển giao các văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành cho cá nhân, tổ chức có liên quan theo một trình tự, thủ tục pháp luật quy định và phải có sự đảm bảo công việc đã thực hiện mà không quan tâm đến việc cá nhân, tổ chức có liên quan có đồng ý nhận hay không. Như vậy, điểm đặc trưng của tống đạt VBTT “là hoạt động bắt buộc không 6 chỉ đối với cơ quan ban hành VBTT mà còn bắt buộc cả với người nhận VBTT”. Người nhận buộc phải nhận văn bản đó, có biên bản xác nhận cho việc tống đạt đã hoàn thành và đồng thời có trách nhiệm tuân theo, có nghĩa vụ thực hiện các nội dung trong văn bản mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của mình.
Nếu người nhận từ chối nhận, cơ quan có thẩm quyền có nghĩa vụ thực hiện lập biên bản xác nhận về việc người nhận từ chối nhận văn bản và phải có sự xác nhận của bên thứ ba làm chứng. Đồng thời, nếu người nhận văn bản không thực hiện theo nội dung của văn bản được tống đạt thì có thể xác định họ đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó làm cơ sở xác định cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện các bước tiếp theo của quá trình tố tụng. “Thông báo” được hiểu là “hoạt động báo cho mọi người biết tình hình, tin 7 tức bằng lời nói hoặc bằng văn bản”. Như vậy, trong hoạt động TTDS, thông báo VBTT có thể được hiểu là “việc cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp thông tin cho cá 8 nhân, cơ quan, tổ chức những thông tin liên quan đến họ” để họ nắm bắt được nội dung, lộ trình, tiến trình giải quyết vụ việc.
Nếu như ở cấp VBTT, đối tượng để cấp là “các tài liệu, văn bản cụ thể để người nhận VBTT sử dụng, phục vụ mục đích 5 Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa – NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 6 Nguyễn Bích Thảo (Chủ biên) (2021), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 7 Viện Ngôn ngữ học (2019), sđd (1), tr. 8 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.
12 9 chính đáng của họ theo quy định pháp luật” thì ở thông báo VBTT, đối tượng cần được chuyển giao là những thông tin đã được ghi nhận trong VBTT. Việc thông báo VBTT chỉ nhằm mục đích giúp người nhận nhận biết rằng một hoạt động tố tụng nhất định trong quá trình giải quyết vụ án sắp được tiến hành và được báo công khai để người nhận nắm thông tin về vụ việc và nếu cần thiết sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, không buộc người nhận phải tuân theo và nếu người nhận từ chối nhận văn bản cũng không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ việc. Đây cũng là điểm khác biệt giữa thông báo với tống đạt VBTT. Ví dụ, Tòa án nhân dân Thành phố K.
ban hành Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số 345/TB-TA để báo cho đương sự biết hoạt động phiên họp sắp được tiến hành đồng thời thực hiện tống đạt Giấy triệu tập tham gia phiên họp đến các đương sự. Đương sự có nghĩa vụ nhận VBTT là Giấy triệu tập trên và phải tham gia phiên họp vào đúng thời điểm đã được ấn định trong văn bản. Như vậy, từ các phân tích trên, có thể định nghĩa về phương thức cấp, tống đạt, thông báo VBTT như sau: Phương thức cấp, tống đạt, thông báo VBTT là những cách thức, phương pháp được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự với từng trình tự, thủ tục cụ thể trong việc chuyển giao các VBTT do các cơ quan có thẩm quyền ban hành đến các chủ thể có liên quan để họ nắm bắt được tiến trình giải quyết cũng như nội dung các hoạt động trong suốt quá trình giải quyết vụ việc, từ đó làm cơ sở để thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình. Đặc trưng pháp lý của phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Thứ nhất, cấp, tống đạt, thông báo VBTT là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.
“Hoạt động tống đạt là hoạt động truyền tải sự giao tiếp một chiều từ cơ quan tiến hành tố tụng đến người có liên quan, thông tin trong cuộc giao tiếp này mang tính chất quyền lực nhà nước buộc người được tống đạt có nghĩa vụ tiếp nhận, 10 hoặc mặc nhiên xác định họ đã tiếp nhận thông tin và thi hành”. Việc cấp, tống đạt, thông báo VBTT là nghĩa vụ của cơ quan ban hành VBTT bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự. Các VBTT phải được cấp, tống đạt, thông báo theo quy định tại Điều 171 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) nhìn chung là các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Về chủ thể thực hiện cấp, tống đạt, thông báo VBTT thì đa phần vẫn là phía cơ quan 9 Nguyễn Bích Thảo (Chủ biên) (2021), sđd (6), tr.
10 Lâm Vương Mỹ Linh (2015), tlđd (2), tr. Đối với những chủ thể khác, hoạt động cấp, tống đạt, thông báo VBTT đều được thực hiện theo sự ủy quyền của cơ quan nhà nước. Ví dụ, khi Tòa án có yêu cầu thì cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc sẽ có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo VBTT. Thừa phát lại cũng là một tổ chức được nhà nước ủy quyền thực hiện việc tống đạt VBTT với mục đích giảm bớt gánh nặng cho các cơ quan tiến hành tố tụng.
Trong trường hợp người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo VBTT không phải là Tòa án hoặc cơ quan ban hành VBTT hoặc cán bộ của cơ quan đó, thì chủ thể thực hiện “có nghĩa vụ thông báo kết quả của việc cấp, tống đạt, thông báo VBTT cho Tòa án hoặc cơ quan ban hành VBTT” (Điều 181 BLTTDS). Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc cơ bản của BLTTDS về trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Tòa án đã được quy định tại Điều 22 BLTTDS. Thứ hai, cấp, tống đạt, thông báo VBTT mang tính chất bắt buộc đối với cơ quan ban hành văn bản. Sau khi ban hành văn bản, các cơ quan ban hành buộc phải thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo các VBTT trên đến người nhận theo một trình tự, thủ tục luật định để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Nếu không thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo VBTT, quyền lợi của đương sự khi tham gia tố tụng sẽ bị ảnh hưởng và cơ quan, cá nhân không thực hiện đúng phải chịu chế tài theo quy định về pháp luật TTDS.