Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Thiết kế trò chơi trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh trung ho ̣c phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 7 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1Khái niệm năng lựcvà năng lực tự học 1.1 Năng lực Thế kỉ XXI với những thay đổi mạnh mẽ ở năng lực chúng ta trong tất cả các lĩnh vực từ kinh tế - chính trị - xã hội đã tác động không nhỏ đến giáo dục. Tri thức nhân loại trở nên đa dạng, phong phú đến từ nhiều người khác nhau. Do đó, người học không còn thụ động đón nhận tri thức từ một hoặc vài nguồn căn bản mà đã chủ động tìm kiếm tri thức theo nguyện vọng, mục đích của bản thân. Chính vì vậy, đào tạo năng lực cho người học là mục tiêu cao nhất và cần thiết để người học có thể khẳng định: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình (tiêu chí của UNECSO).Nề ngiáo dục hiê ̣n nay đã và đang hướng đến mô hình giáo dục định hướng năng lực, thay vì nội dung, truyề n đa ̣t kiến thức một chiều nhằ m phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.
Theo Từ điển Tiếng Việt năng lực được hiểu là: “khả năng, điều kiện chủ quan, hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”. Theo Tâm lí học, năng lực là “tổ hợp nhiều thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với nhiều yêu cầu đặc trưng của một hành động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt”. Trên thế giới đã có rất nhiều tác giả đã đề cập đến khái niệm năng lực như: P.A Rudich, De Ketele (1995), Xavier, Roegiers (1996), P. Dự án Điều chỉnh cấu trúc giáo dục tại Châu Âu (TUNING Education Structure in Europe, 2010) đã đề xuất phân loại các năng lực cần hình thành ở người học trong thế kỉ XXI theo 2 nhóm lớn bao gồm: - Nhóm năng lực chung (generic) gồm 29 năng lực được chia thành 3 loại: năng lực công cụ (nhận thức, phương pháp luận, kĩ thuật và ngôn ngữ); 8 z năng lực liên nhân cách (cá nhân và xã hội) và năng lực hệ thống (phối kết hợp các yếu tố thành một hệ thống chỉnh thể).
- Nhóm các năng lực chuyên biệt (specific) cho 13 ngành học (ví dụ: có 15 năng lực chuyện biệt cho người ho ̣c các môn khoa ho ̣c tự nhiên). Ở Việt Nam tác giả Nguyễn Trọng Khanh(2012) cho rằng năng lực được hiểu là một thuộc tính nhân cách bao gồm nhiều kĩ năng, kĩ xảo, được định hình trên cơ sở kiến thức, là phẩm chất tâm lí và sinh lí của con người đảm bảo thực hiện một hoạt động nào đó. Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2012) năng lực là “khả năng thực hiện thành công và có trách nhiệm các nhiệm vụ, giải quyết các vấn đề trong các tình huống xác định cũng như các tình huống thay đổi trên cơ sở huy động tổng hợp các kiến thức kĩ năng và các thuộc tính tâm lí khác như động cơ, ý chí, quan niệm, giá trị,… Suy nghĩ thấu đáo sẵn sàng hoạt động. Theo tác giả Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội (2016) năng lực là “những kĩ năng, kĩ xảo học được hay sẵn có của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội, và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách trách nhiệm và hiệu quả trong những tính huống linh hoạt bằng những biện pháp, cách thức phù hợp”.
Tác giả Tôn Quang Cường trong bài viết “Xây dựng mô hình đánh giá tính hiê ̣u quả của chương trình đào tạo” đăng trên Ta ̣p chí Giáo du ̣c và Xã hô ̣i, số 22, tháng 12/2012đã đưa ra nhâ ̣n đinh ̣ : các nghiên cứu đều đưa ra nhi ều cách hiểu về khái niệm năng lực, nhưng tựu trung lại có thể chỉ ra 4 điểm chung như sau: - Thứ nhất, là tính định hướng về kết quả cuối cùng mà người học cần phải làm được (sau khi thực hiê ̣n viê ̣c ho ̣c tâ ̣p). - Thứ hai, là tổ hợp các kĩ năng và hành vi, giá trị, niềm tin… để thực thi các nhiệm vụ trong từng bối cảnh, mức độ cụ thể (trong quá triǹ h ho ̣c tâ ̣p). 9 z - Thứ ba, là tổ hợp các chỉ số về kiến thức, kĩ năng, thái độ, phẩm chất được hình thành theo những chuẩn được công bố trước và khả năng của người học vận dụng chúng trong thực tế. - Thứ tư, là sự “sẵn sàng” thực hiện hành động đáp ứng các yêu cầu chung, yêu cầu cụ thể trong từng bối cảnh theo yêu cầ u đă ̣t ra.
Gầ n đây nhấ t , Chương trình giáo du ̣c phổ thô ng tổ ng thể (Bô ̣ GD-ĐT, 2017) đã đưa ra kiế n giải về năng lực mang tính đinh ̣ hướng để xây dựng các chương trình giáo du ̣c bâ ̣c phổ thông đáp ứng yêu cầ u mới : “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Tóm lại, trong quá trin ̀ h giáo du ̣c các nhóm năng lực cần hướng tới cho người học sẽ bao gồm: các năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Các năng lực chung mang tiń h phổ quát , cầ n hiǹ h thành ở bấ t kì cấ p học nào bao gồm: nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân (năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy, năng lực quản lý); nhóm năng lực về quan hệ xã hội (năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác); nhóm năng lực công cụ (năng lực sử dụng công nghệ thông tin, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán).
Trong môn Ngữ văn, năng lực chuyên biệt cần hình thành cho người học bao gồm: năng lực đọc- hiểu văn bản; năng lực tạo lập văn bản; năng lực cảm thụ văn bản. Như vậy, hình thành năng lực chung(năng lực giao tiếp, năng lực sử dụng ngôn ngữ) và năng lực chuyên biệt cho người học có mối quan hệ chặt chẽ với việc giảng dạy Tiếng Việt trong chương trình môn Ngữ Văn ở cấ p học THPT.2Năng lực tự học Xác định và xây dựng hệ thống các năng lực của người học (bâ ̣c phổ thông và đa ̣i ho ̣c) là một trong những nhiê ̣m vụ trọng tâm, quan tâm hàng đầ u của bất kì nền giáo dục nào hiện nay trên thế giới. Tại mỗi quốc gia , hê ̣ thố ng các năng lực cầ n hình thành và phát triể n ở người ho ̣c đề u đươ ̣c xem xét đinh ̣ kì trên cơ sở phân tích các yế u tố , bố i cảnh văn hóa, chính trị, kinh tế và các mu ̣c tiêu phát triể n xã hô ̣i đă ̣c thù.1 Tự học là quá trình nhận thức tích cực và chủ động Bàn về vấn đề tự học và năng lực tự học , tác giả Thái Duy Tuyên (2004) viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) cùng các phẩm chất, động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biêt nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”. Cùng bàn về nội dung này, tác giả Nguyễn Kỳ (1998) khẳng định: “Tự học là ngươì học tích cực chủ động tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình…Tự học thuộc quá trình cá nhân hoá việc học”.
Việc cá nhân chủ động chiếm lĩnh kiến thức, nghiên cứu tài liệu, sách vở, tìm kiếm thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng hay qua mạng Internet…được coi như những mặt biểu hiện của việc tự học. Với mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng phương pháp dạy học tích cực để phát huy năng lực HS của Bộ GD&ĐT khẳng định: “Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Muốn học sinh biết tự học, phải dạy cho học sinh cách học, cách tư duy trước mỗi vấn đề, mỗi tình huống học tập”. Như vậy, việc tự học và hình thành 11 z năng lực tự học cho HS nói chung và HS THPT nói riêng có vai trò quan trọng: Tự học là vấn đề của giáo dục hiện đại, vừa là nhu cầu vừa đòi hỏi mỗi công dân trong thế kỉ XXI.
Sự bùng nổ thông tin, những tri thức KH&CN tạo nên khối tri thức đồ sộ, luôn luân chuyển, phát triển. Đứng trước sự biến đổi mau lẹ đó, nhiệm vụ cấp bách của giáo dục là hình thành và trang bị cho HS những năng lực mới để đáp ứng những yêu cầu của xã hội. Khi công nghệ thông tin phát triển, tốc độ lưu chuyển thông tin mau lẹ, thì người học được mở rộng khả năng, cơ hội và không gian học tập. Khối kiến thức đồ sộ, thời gian học tập tại trường lớp không nhiều thì hoạt động tự học là giải pháp tối ưu để người học tích luỹ, đón nhận những kiến thức phong phú, đa dạng.
Bên cạnh đó, việc đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm chỉ đạo của Đảng cũng khẳng định “lấy người học là trung tâm” nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình tiếp nhận tri thức, tránh hiện tượng “giáo dục một chiều, hay giáo dục nhồi nhét”. Trong bài viết Tự học- Một chìa khoá vàng của giáo dụctác giả Phan Trọng Luận nhấn mạnh: “Tự học là một chìa khoá vàng cần được mài sáng thêm trong giai đoạn CNH - HĐH đất nước sang thế kí XXI. Cũng có thể nghĩ rằng tự học là con đường dân chủ hoá xã hội hoá giáo dục và khoa học một cách có hiệu lực nhằm phát huy tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên cộng đồng trong sự nghiệp đi nhanh đón đầu lên đỉnh cao công nghệ hiện đại”. Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời.
Thực tế chứng minh, kiến thức đang thay đổi từng giờ, từng phút, trong khi đó kiến thức trong SGK đôi khi lỗi thời không được cập nhật liên tục, thường xuyên.