phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương. Cơ sở lý luận và thực tiễn. Một số biện pháp tổ chức dạy học tương tác chủ dé CSC, CSN trong môn Toán ở trường THPT. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về day học tương tác 1. Những kết quả nghiên cứu trên thếgiói Nghiên cứu về quan hệ tương tác giữa các yếu tố của hoạt động dạy và hoc đã được dé cập từ rất sớm trong lich sử giáo dục của nhân loại. Không Tử (551 — 479 TCN) hay Socrate (469 — TCN) đã tỏ thái độ hết sức trân trọng đối với người thầy giáo và đề cao vai trò tích cực, chủ động trong học tập của người học khi mô tả hoạt động dạy học.
Tư tưởng SP TT đã được nhiều người nghiên cứu. Trong các tài liệu sư phạm của Liên Xô, Đức trước đây, người ta đã nói nhiều đến tương tác Dạy - Học. Các nhà giáo dục Liên Xô như: N. đã đánh giá tinh chất nhiều nhân tố trong quá trình dạy học (ba nhân tố: Dạy — Nội dung — Học).
Vào những năm 90 của thế kỉ XX, nhóm tác giả người Pháp là Guy Brousseau, Claude Margolinas, Claude Comiti,. cũng đã nghiên cứu sự tương tác giữa các yếu tô của hoạt động dạy học trong lí thuyết tình huống môn Toán Jean- Mare Denommé & Madeleine Roy là hai tác giả cuốn sách “Tiến tới một phương pháp SPTT (bộ ba: Người học - người dạy — môi trường)” [Jean-Marc Denomme' & Madeleine Roy [10], đã khởi xướng một cách tiép cận su phạm, gọi la phương pháp Sư phạm tương tác. Trong nghiên cứu cua mình, những nhà lý luận dạy học đã khang định yếu tố môi trường trong cấu trúc quá trình dạy học, theo đó, hệ thống dạy học tối thiểu là sự tương tác của: thầy giáo — học trò — môi trường đối với tri thức. Như vậy, trong quá trình dạy học giáo viên không tác động trực tiếp đến HS mà thông qua một yếu tố trung gian đó là tri thức.
Trong cuốn sách “The construction of new mathematical knowledge in classroom interaction” (Xây dựng kiến thức toán học mới trong lớp học tương tác), tác giả Heinz Steinbring [Heinz Steinbring [7] cũng đưa ra cách tiếp cận dạy học theo quan điểm sư phạm này. Tác giả khắng định người học giữ vị trí trung tâm trong quá trình day học và dé cao vai trò của sự giao tiếp, sự tranh luận trong lớp học. Hiện nay, trên thế giới đang sử dụng một công cụ trong giảng dạy tạo được môi trường tương tác cao đó là Bảng điện tử tương tác Activboard. Bảng điện tử này được xem như sản pham nòng cốt trong việc xây dựng giải pháp lớp học tương tác của công ty Promethean (Anh quốc) [25].
Đây cũng là công ty đi tiên phong về lĩnh vực xây dựng lớp học tương tác, đưa truyền thông đa phương tiện phục vụ cho việc dạy và học. Loại bảng này có chức năng của màn hình tiếp xúc trực tiếp, cho phép người sử dụng dùng bút thể hiện tự do những nội dung cần trình bày và kết nối được với các môi trường mạng, Internet. GV va HS các cấp đều có thé dùng hệ thống này dé xây dung, tiếp cận các bài giảng điện tử hay thư viện số hóa trên mạng: trình bày những cuộc thảo luận nhóm, trắc nghiệm trực tiếp nhờ những phần mềm đi kèm. Trong các hình thức DHTT, sử dụng phần mềm và các phòng học đa chức năng có nối mạng Internet hoặc mạng nội bộ tỏ ra có nhiều ưu điểm và được nhiêu nước trên thê giới quan tâm theo đuôi.
Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam Phương pháp sư phạm tương tác được phổ biến ở Việt Nam vào năm 1992 tại Huế và 1995 tại trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh trong hội thảo Didactic của những nước nói tiếng Pháp. Mặc dù vậy, thuật ngữ sư phạm học tương tác là một thuật ngữ mới ở Việt Nam. Trong thời gian gần đây, các nhà giáo Việt Nam đã trao đôi nhiều về tư tưởng sư phạm mới này, có thé nhắc đến một số công trình sau: Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục “Dạy học tương tác trong môn Toán ở trường THPT qua chủ đề Phương trình và bất phương trình” của tác giả Đỗ Thị Hồng Minh [13]. Ngoài ra còn khá nhiều luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về dạy học theo quan điểm sư phạm này.
Chang hạn như tác giả Bùi Văn Nghị đã trình bày một cách khái quát về phương pháp dạy học tương tác qua tác phẩm: “lận dung lí luận vào thực tiễn day học môn Toán ở trường pho thông”. [14] Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục học “T6 chức day hoc theo quan điểm SPTT trong các trường (khoa) cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo hiện nay” [22], tác giả Nguyễn Thanh Vinh; Luận án tiến sĩ “Day hoc dua vào tương tác trong đào tao giáo viên tiểu học trình độ đại học ” [20] của tac gia Phạm Quang Tiệp. Ở Việt Nam hiện nay, đã và đang áp dụng quan điểm này tuy chưa được rộng rãi ở một số trường phố thông. Việc áp dụng DHTT được thé hiện rõ nhất đó là thi giải toán qua mạng cho học sinh Tiểu học thông qua việc sử dụng Học liệu Toán tương tác của tác giả Hoàng Khánh Hòa đã được giới thiệu trên mạng Internet.
Học liệu Toán Tương tác đã thu hút được sự tham gia đông đảo của các em học sinh Tiểu học và phổ thông cơ sở, cũng như sự quan tâm của các bậc phụ huynh. Có thê nói, việc nghiên cứu về DHTTở trong và ngoài nước đã đạt được nhiều thành tựu về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, theo chúng tôi được biết, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về DHTT trong môn Toán, nhất là DHTT trong một chu dé cụ thé như CSC va CSN. DHTT là một cách tiếp cận dạy học hiện đại, đã áp dụng thành công ở một số nước trên thế giới, và đạt được nhiều kết quả khả quan.
Tuy nhiên, việc áp dụng DHTT vào Việt Nam hiện nay đặc biệt đối với việc dạy học môn Toán ở trường THPT vẫn còn nhiều khó khăn. Bởi lẽ người học trong môi trường học của chúng ta vẫn còn khá thụ động, sự hứng thú không phải lúc nào cũng khơi dậy và duy trì được ở người học. Mặt khác, các phương tiện dạy học phục vụ cho DHTT ở nước ta con han chế. Trong chương trình dạy học Toán trường THPT ở Việt Nam tôi xin được giới thiệu chủ về đề CSC, CSN.
Chủ dé cấp số cộng, cấp số nhân trong chương trình môn Toán ở trường THPT 1. Vị trí, vai trò của CSC, CSN Trên cơ sở những kiến thức về hàm số ở Đại số 10, chương III của sách giáo khoa Dai số và giải tích 11 giới thiệu về Day sd, tiếp đến là hai dãy số đặc biệt: CSC, CSN (được trình bày ở bài số 3 và bài số 4 chương III). Những khái niệm về hàm số đã học ở Đại số lớp 10 như: định nghĩa, cách cho hàm số, đồ thị hàm s6,. được thé hiện lại trong Dãy SỐ.
Dãy số là hàm số có tập xác định là N*. Hai dãy số đặc biệt là CSC, CSN được trình bày với cùng một dàn bài: Định nghĩa, số hang tổng quát, tinh chất các số hạng, tổng của n số hạng dau. Điều này rất thuận lợi cho việc học sinh chủ động khám phá tri thức mới cũng như việc đối chiếu và so sánh trong quá trình tự nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả dạy — học của GV và HS. Yêu câu về kiến thức, kỹ năng.
Biết các khái niệm về CSC, CSN; định nghĩa, tính chất các số hạng và công thức tính tổng n số hạng đầu tiên của hai cấp số. Biết vận dụng các công thức và tính chất dé giải toán về hai cấp sé. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Dạy học và quá trình dạy học 1.
Dạy hoc Dạy học là một bộ phan cua qua trình sư phạm tong thé, là một trong những con đường dé thực hiện mục đích giáo dục. Dạy học là hoạt động phối hợp của hai chủ thể đó là giáo viên và học sinh. Dạy và học là hai hoạt động được thực hiện đồng thời với cùng một nội dung và hướng tới cùng một mục đích. Phải khang định rằng, nếu hai hoạt động này bị tách rời sẽ lập tức phá vỡ hoạt động dạy học.
Học tập không có giáo viên trở thành tự học, giảng dạy không có học sinh trở thành độc thoại. Qua trình day hoc Bản chất của quá trình dạy học được thé hiện thông qua mối quan hệ tương tác giữa giáo viên và học sinh. Dạy học là toàn bộ những hoạt động chung của cả thầy và trò trong đó thay giữ vai trò chủ đạo còn trò giữ vai trò chủ động, độc lập, tích cực sáng tạo lĩnh hội tri thức nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học. Hoạt động của thầy và trò được minh họa qua sơ đồ sau: Nội dung dạy học | t Day Hoc Truyén dat Linh hội tf } † Điều khiển Tự điều khiển Hình 1.
Mối quan hệ giữa người dạy và người học của quá trình dạy học. Bản chất của quá trình dạy học được xem như là một quá trình nhận thức. Vì quá trình dạy học xét cho cùng cũng là vì học trò, học trò năm được những gi, học được những gi, vận dụng như thé nào? 1. Tương tác Theo “The Oxford Modern English Dictionary”, “tương tác” có nghĩa là “hành động cùng nhau” [11].
Theo “Từ điển tiếng Việt” “Tương tác là sự tác động qua lại lẫn nhau” [16]. Trong tac pham “Day học và PPDH trong nhà trường”, tac giả Phan Trọng Ngọ đã quan niệm “ HP day và HD học là sự tương tác lần nhau giữa hai mặt của một hoạt động: HD dạy hoc” [15, tr. Trong đó tác giả con 11 nhấn mạnh đến su tồn tai và phát triển của mặt này quy định sự ton tại và phát triển của mặt kia. Trong quá trình dạy học, có thể hiểu “Tương tác là sự tác động qua lại trực tiếp giữa người học với người dạy và giữa người học với nhau trong môi trường giáo dục nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập, các mục tiêu dạy học đã xác định”.
Quan niệm về Dạy học tương tác Dạy học tương tác là quá trình dạy học trong đó diễn ra sự tương tác không chỉ giữa người dạy và người học mà còn bao gồm cả sự tương tác giữa học sinh với nhau và với các yếu tố khác trong hoạt động dạy học.