Luận án Tiến sĩ: Phát triển Phương pháp Năng lượng Biến dạng để Chẩn đoán Hư hỏng Kết cấu Tấm

Luận án tiến sĩ nghiên cứu kỹ thuật xây dựng phát triển phương pháp năng lượng biến dạng để chẩn đoán hư hỏng cho kết cấu tấm, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Đại Học Bách Khoa

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Xây Dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

190
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Trong lĩnh vực kỹ thuật xây dựng, kết cấu tấm đóng vai trò thiết yếu. Tuy nhiên, trong quá trình thi công và sử dụng, các hư hỏng kết cấu có thể xảy ra, làm giảm khả năng chịu lực của công trình. Do đó, việc chẩn đoán hư hỏng là cần thiết để đảm bảo an toàn cho công trình. Phương pháp năng lượng biến dạng là một trong những phương pháp hiện đại được áp dụng để phát hiện và xác định mức độ hư hỏng. Phương pháp này giúp phát hiện sớm các khuyết tật, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời.

1.1 Tầm quan trọng của chẩn đoán hư hỏng

Việc đánh giá hư hỏng trong các kết cấu tấm là rất quan trọng. Các hư hỏng có thể gây ra sự cố nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản. Sử dụng phương pháp năng lượng biến dạng giúp xác định vị trí và mức độ hư hỏng một cách chính xác, từ đó nâng cao hiệu quả giám sát và bảo trì.

II. Phương pháp năng lượng biến dạng

Phương pháp năng lượng biến dạng được phát triển để chẩn đoán hư hỏng trong các kết cấu tấm. Phương pháp này dựa trên nguyên lý rằng sự thay đổi trong năng lượng biến dạng của kết cấu có thể chỉ ra sự xuất hiện của hư hỏng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc áp dụng thuật toán di truyền trong phương pháp này có thể nâng cao độ chính xác trong việc xác định vị trí và mức độ hư hỏng.

2.1 Cơ sở lý thuyết

Cơ sở lý thuyết của phương pháp năng lượng biến dạng bao gồm việc phân tích dao động của kết cấu. Các chỉ số như chỉ số Achỉ số B được sử dụng để đánh giá kết quả chẩn đoán. Phương pháp này không chỉ giúp phát hiện hư hỏng mà còn cung cấp thông tin chi tiết về mức độ và vị trí của nó trong kết cấu.

III. Ứng dụng thực tiễn

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng phương pháp năng lượng biến dạng có thể được áp dụng hiệu quả trong việc chẩn đoán hư hỏng cho các kết cấu tấm khác nhau. Kết quả từ các mô hình mô phỏng cho thấy rằng phương pháp này có khả năng phát hiện sớm các hư hỏng vật liệu và giúp cải thiện quy trình bảo trì. Việc áp dụng phương pháp này trong thực tiễn sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và chi phí sửa chữa.

3.1 Kết quả kiểm chứng

Kết quả kiểm chứng cho thấy rằng phương pháp năng lượng biến dạng có thể xác định chính xác vị trí hư hỏng trong các tấm bê tông cốt thép. Việc sử dụng dữ liệu dao động giúp cải thiện độ chính xác của chẩn đoán, đồng thời giảm thiểu lượng dữ liệu đầu vào cần thiết. Điều này chứng tỏ rằng phương pháp này có thể được áp dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng thực tế.

11/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lĩnh vực theo dõi và chẩn đoán kết cấu Dưới tác động của các điều kiện tự nhiên và vận hành, các hệ kết cấu chịu lực chính trong một công trình xây dựng bị giảm khả năng chịu lực do sự xuất hiện của các hư hỏng kết cấu. Hư hỏng kết cấu là những thay đổi đặc trưng kết cấu mà có thể gây ra ảnh hưởng đến sự vận hành của kết cấu ở hiện tại hoặc trong tương lai [1]. Cụ thể hơn, hư hỏng là những thay đổi về thuộc tính vật liệu, hình học ban đầu của kết cấu bởi các nguyên nhân như là vết nứt, ăn mòn, lỏng liên kết bu lông, hư hỏng mối hàn, … dẫn đến các chuyển vị, dao động hoặc ứng suất không mong muốn [2]. Sự sụp đổ của một số kết cấu trên thế giới.com) Các hư hỏng ở trên là điều không thể tránh khỏi và làm giảm tuổi thọ của công trình.1(b) lần lượt là hình ảnh sụp đổ của cầu vượt ở Canada vào năm 2006 và cầu qua sông Mississippi ở Mỹ vào năm 2007 do chủ sở hữu đã không phát hiện ra các hư hỏng để đưa ra các quyết định sửa chữa kịp thời.

Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc phát hiện hư hỏng kịp thời đối với sự an toàn và tuổi thọ của kết cấu xây dựng. 1 Tại Việt Nam, việc nâng cao độ an toàn của kết cấu trong giai đoạn sử dụng cũng đang là một động lực nghiên cứu mạnh mẽ, đặc biệt là sau khi một số sự cố công trình nghiêm trọng xảy ra gần đây như sự sụp đổ tháp truyền hình cao 180 m ở Nam Định năm 2012 (Hình 1.2 (a)), cầu treo Chu Va ở Lai Châu năm 2014 (Hình 1. Sự sụp đổ của kết cấu ở Việt Nam. (a) Tháp truyền hình Nam Định (b) Cầu treo Chu Va 6, Lai Châu (www.com) Để đảm bảo kết cấu an toàn trong quá trình sử dụng, giảm thiểu tai nạn đáng tiếc xảy ra, giảm thiệt hại về kinh tế, đặc biệt là bảo đảm tính mạng của người sử dụng, việc xác định kịp thời những hư hỏng trong kết cấu để tiến hành gia cố, sửa chữa có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Các kỹ thuật phát hiện hư hỏng cơ bản và phổ biến nhất dựa vào các quan sát trực quan. Các kỹ thuật này phù hợp với các kết cấu đơn giản, quy mô nhỏ khi mà việc quan sát, kiểm tra kết cấu được thực hiện tương đối dễ dàng. Đối với kết cấu quy mô lớn, phức tạp, cần có một hệ thống quan sát ứng xử động lực học của kết cấu một cách tự động, thường xuyên để phát hiện ra các hư hỏng kết cấu. Hệ thống như trên được gọi là hệ thống theo dõi và chẩn đoán sức khỏe kết cấu (Structural Health Monitoring – SHM).

SHM là một phương pháp hiện đại để giám sát tình trạng và sự vận hành của hệ kết cấu mà không ảnh hưởng đến hệ kết cấu đó. SHM bao hàm việc hiểu rõ ứng xử của kết cấu dưới các điều kiện tác động khác nhau, giảm thiểu các thiệt hại bằng cách đưa ra các biện pháp phòng ngừa và trợ giúp cho các quyết định bảo trì và sửa chữa kết cấu. SHM được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực dân dụng trên công trình nhà cao tầng (Hình 1.3) [3] và công trình cầu (Hình 1. Hình ảnh minh họa hệ thống SHM cho tháp Burj Khalifa, UAE [3] Hình 1.

Hệ thống SHM trong kết cấu cầu Jindo, Hàn Quốc [4] Rytter [5] đã chia việc xác định hư hỏng theo bốn cấp độ theo sơ đồ như trong Hình 1. Việc phân loại này dựa vào thông tin về hư hỏng và kết cấu mà hệ thống SHM cung cấp được. Đến nay, các phương pháp xác định hư hỏng dựa trên dao động mà không sử dụng 3 mô hình phân tích kết cấu chủ yếu thuộc cấp độ 1 và 2. Khi các phương pháp dựa trên dao động được kết hợp với mô hình kết cấu, trong một vài trường hợp có được cấp độ 3.

Dự đoán cấp độ 4 đòi hỏi tích hợp thêm nhiều lĩnh vực như cơ học rạn nứt, phân tích mỏi hoặc đánh giá phương án thiết kế kết cấu [6]. Cấp độ 1: Cấp độ 2: Cấp độ 3: Cấp độ 4: Phát hiện sự xuất Khoanh vùng vị trí Định lượng mức Đánh giá tuổi thọ hiện hư hỏng hư hỏng độ hư hỏng còn lại của kết cấu Hình 1. Bốn cấp độ chẩn đoán hư hỏng trong SHM 1.2 Phương pháp phát hiện hư hỏng dựa vào đặc trưng dao động Trong số nhiều phương pháp luận khác của các kỹ thuật SHM thì các phương pháp theo dõi và chẩn đoán kết cấu dựa vào sự thay đổi các đặc trưng dao động nổi bật lên với nhiều ưu điểm nổi trội. Với khả năng đo lường linh hoạt, chi phí tương đối thấp, sử dụng kỹ thuật không phá hủy, các phương pháp dựa trên dao động ngày càng thu hút nhiều nghiên cứu và trở thành một trong những phương pháp phát hiện hư hỏng phổ biến nhất hiện nay.

Các phương pháp dựa trên dao động đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu tổng quan là có khả năng chẩn đoán được cả vị trí và mức độ hư hỏng của kết cấu mà chỉ sử dụng các đặc trưng về dao động cơ bản như tần số và dạng dao động [6-10]. Các phương pháp này bao gồm hai nhóm phương pháp dựa vào mô hình (model-based method) và các phương pháp không dựa vào mô hình (non-model based method). Phương pháp dựa vào mô hình là phương pháp sử dụng một mô hình số để mô phỏng kết cấu thực và dự đoán các phản ứng của kết cấu bằng phương pháp xác suất và các mô hình hồi quy [11- 14]. Hai phương pháp dựa vào mô hình phổ biến là phương pháp dựa vào mô hình (model-based method) [6] và phương pháp chẩn đoán cục bộ (local diagnostic method).

Trong khi đó, phương pháp không dựa vào mô hình xác định các hư hỏng bằng cách so sánh các dữ liệu dao động của kết cấu ở trạng thái nguyên dạng và trạng thái có hư hỏng [11, 15]. Đại diện cho nhóm phương pháp này là phương pháp không tham số (non- parametric method) và phương pháp chuỗi thời gian (time series method) [16-19]. 4 Thông số đầu vào của các phương pháp chẩn đoán hư hỏng dựa vào dao động là các đặc trưng động lực học, bao gồm: dạng dao động và các dẫn xuất của nó [20-22]; tần số [23]; năng lượng biến dạng [24]; hàm đáp ứng tần số [25, 26]; thông số sản sinh sóng [27]; hệ số cản nhớt dao động [28, 29] và hệ số hồi quy sử dụng phương pháp lịch sử thời gian [30-32]. Das và cộng sự [33] đã thực hiện một nghiên cứu tổng quan, so sánh các kỹ thuật phát hiện hư hỏng khác nhau và thảo luận ưu nhược điểm của từng nhóm phương pháp.

Mỗi nhóm phương pháp có những ưu nhược điểm và phạm vi ứng dụng khác nhau và được trình bày chi tiết ở Chương 2. Đặc biệt, các nghiên cứu tổng quan cho thấy rằng chưa có một phương pháp nào được xem là hoàn chỉnh và có thể chẩn đoán được tất cả các dạng hư hỏng khác nhau trên nhiều dạng kết cấu khác nhau. Do đó, cần thêm nhiều nghiên cứu trên các phương pháp hiện tại để nâng cao độ chính xác và khả năng ứng dụng của các phương pháp dựa vào dao động vào các công trình dân dụng thực tế.3 Phương pháp năng lượng biến dạng Trong các phương pháp chẩn đoán hư hỏng dựa vào đặc trưng dao động, phương pháp năng lượng biến dạng (Modal Strain Energy - MSE) đã chứng tỏ là một trong những phương pháp có tính hiệu quả cao cho việc chẩn đoán hư hỏng trong kết cấu [34, 35]. Năng lượng biến dạng là một chỉ tiêu có độ nhạy cao với sự thay đổi của độ cứng (ma trận độ cứng) nên được mở rộng nghiên cứu áp dụng trong bài toán chẩn đoán hư hỏng kết cấu vì trạng thái hư hỏng của một phần tử nào đó có thể được xem như là sự suy giảm về độ cứng của phần tử đó.

Phương pháp năng lượng biến dạng được áp dụng lần đầu tiên để chẩn đoán hư hỏng cho kết cấu dạng dầm [36]. Sau đó, phương pháp này được nghiên cứu mở rộng để áp dụng cho kết cấu dạng tấm [37]. Từ đó, rất nhiều chỉ số hư hỏng dựa trên thay đổi năng lượng biến dạng phần tử được đề xuất để xác định các phần tử hư hỏng trong kết cấu tấm, chẳng hạn: MSECR (Modal Strain Energy Change Ratio) [35], MSEBI (Modal Strain Energy Based Index) [38], MSEEI (Modal Strain Energy Equivalence Index) [39], MSEPI (Modal Strain Energy Probability Index) [40],. 5 Biểu thức tính toán năng lượng biến dạng được xây dựng ở dạng liên tục (đối với dạng dao động của phần tử được viết dưới dạng hàm liên tục) và ở dạng rời rạc (đối với dạng dao động của phần tử được ghi nhận dưới dạng chuyển vị tại từng điểm).

Dạng thứ hai được sử dụng hầu hết trong bài toán thực tế vì dữ liệu thu được từ thiết bị đo đạc ở dạng rời rạc. Đối với dạng thứ hai, năng lượng biến dạng được tính toán theo hai cách. Cách thứ nhất gọi là cách trực tiếp và được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu hiện tại. Trong đó, năng lượng biến dạng phần tử được tính trực tiếp dựa vào ma trận độ cứng và véc- tơ các thành phần chuyển vị nút của phần tử.

Khi dao động của kết cấu chủ yếu theo dạng uốn, thì năng lượng biến dạng được tính theo cách thứ hai. Khi đó, năng lượng biến dạng được tính gián tiếp dựa vào các đạo hàm bậc hai của hàm dạng. Cách tiếp cận đầu tiên yêu cầu phải thu thập được năm thành phần chuyển vị tại mỗi nút, bao gồm ba chuyển vị thẳng và hai thành phần chuyển vị xoay. Các tiếp cận này không khả thi trong việc thu thập các thành phần chuyển vị nút trong thực tiễn, đặc biệt là thành phần chuyển vị xoay.

Trong khi cách tiếp cận thứ hai chỉ cần dữ liệu chuyển vị thẳng của nút theo phương vuông góc với mặt phẳng tấm. Do đó, cách tiếp cận thứ hai được áp dụng trong nghiên cứu này vì tính khả thi của việc đo đạc các dữ liệu chuyển vị nút theo dạng uốn. Các nghiên cứu thực nghiệm và mô phỏng về phương pháp năng lượng biến dạng được thực hiện trên nhiều dạng cấu kiện khác nhau như: thanh, tấm, khung phẳng, khung không gian,. Đồng thời, nhiều chỉ số hư hỏng khác nhau dựa trên sự thay đổi năng lượng biến dạng của tấm ở hai trạng thái được đề xuất để chẩn đoán vị trí hư hỏng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Thanh Cao với tiêu đề "Phát triển Phương pháp Năng lượng Biến dạng để Chẩn đoán Hư hỏng Kết cấu Tấm" đã được thực hiện tại Đại Học Bách Khoa, TP. Hồ Chí Minh vào năm 2023. Bài luận án tập trung vào việc phát triển một phương pháp mới sử dụng năng lượng biến dạng nhằm chẩn đoán và phát hiện các hư hỏng trong kết cấu tấm, điều này không chỉ mang lại lợi ích trong việc đảm bảo an toàn cho các công trình xây dựng mà còn giúp nâng cao hiệu quả trong công tác bảo trì và quản lý kết cấu. Độc giả sẽ tìm thấy trong bài viết này những thông tin quý giá về phương pháp mới, cùng với các ứng dụng thực tiễn của nó trong ngành xây dựng.

Nếu bạn quan tâm đến các chủ đề liên quan, hãy tham khảo thêm các tài liệu như Nghiên cứu về tải trọng giới hạn của nền đập xà lan ở Đồng bằng sông Cửu Long, mà cũng đề cập đến các vấn đề kỹ thuật trong lĩnh vực xây dựng. Ngoài ra, bài viết Nghiên cứu ứng dụng neo đất cho thi công hầm nhà cao tầng tại Hạ Long cũng sẽ cung cấp thêm cái nhìn về các phương pháp thi công hiện đại trong xây dựng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu chế tạo bê tông nhẹ cường độ cao sử dụng hạt vi cầu rỗng từ tro bay, một nghiên cứu liên quan đến vật liệu xây dựng, giúp bạn mở rộng kiến thức trong lĩnh vực này.