Chương 1: Giới thiệu, đặt vân đê, mục tiêu và nội dung nghiên cứu, tính cân thiết và ý nghĩa của nghiên cứu, cau trúc của luận văn. * Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong va ngoải nước, một số phương pháp xác định hư hỏng kết cau, ưu nhược điểm của một số phương pháp so. * G Chương 3: Cơ sở lý thuyết của phương pháp phan tử phố cho dam Euler — Bernoulli. Xây dựng thuật toán xác định hư hỏng sử dụng dữ liệu đáp ứng tan số FRF dựa trên phương pháp phan tử phổ cho dam Euler — Bernoulli.
Các bước tinh toán tổng quát. * Chương 4: Các bai toán ứng dụng: giới thiệu các bài toán ứng dụng và kết quả đạt được sau khi áp dụng phương pháp chân đoán hư hỏng đề xuất. * Chương 5: Kết luận, kiến nghị: những đóng góp quan trọng của luận văn, hướng phát triển đề tài. CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2.1 Giới thiệu một số phương pháp số 2.1 Phương pháp phan tử hữu han (Finite Element Method - FEM) Phương pháp phan tử hữu han là một trong những công cu hữu hiệu cho việc tính toán và mô phỏng các trạng thái vật lý xảy ra trong các hệ thống kỹ thuật.
Tuy nhiên, mô hình FEM thông thường được thiết lập bởi tần số độc lập (tĩnh hoặc cố định), các hàm dạng đa thức (nội suy) không thé thu được tất cả các dạng sóng ứng với tan số cao do bước sóng tương ứng là rất ngắn. Một trong những nỗ lực cải thiện tính chính xác của FEM được biết đến là phương pháp h-method, bằng cách làm mịn lưới sao cho kích thước các mắt lưới nhỏ hơn bước sóng 10-20 lần, nhưng hướng tiếp cận này phải giải quyết một khối lượng tính toán lớn.2 Phương pháp độ cứng động lực (Dynamic Stiffness Method —- DSM) Đề khắc phục nhược điểm của FEM thì phương pháp độ cứng động lực (DSM) ra đời dé cải thiện tính chính xác các nghiệm là sử dụng các hàm dạng có thé thay đổi tùy theo tần số dao động. Theo đó, các hàm dạng phụ thuộc vào tần số và chúng được gọi là ham dạng động. Các ham dạng động có thé dé dàng biểu diễn toàn bộ các dạng tan số cao cần thiết, các nghiệm này cực kỳ chính xác để có thể thu được tần số cao, khi đó việc chỉnh lại mắt lưới như phương pháp Phan tử hữu hạn là không cần thiết (Banerjee 1997, Leung 2012).
Ma trận độ cứng động lực được xây dung trong miền tần số bang cach su dung cac ham dạng động va bắt nguồn từ các nghiệm sóng trong phương trình vi phân chủ đạo. Đề có được những nghiệm sóng chính xác theo tần số thì phương trình vi phân chủ đạo theo thời gian được chuyển thành tan số bang cách giả định các nghiệm điều hòa ứng với các tần số riêng. Các ma trận độ cứng và khối lượng phụ thuộc vào tần số và được gọi là ma trận độ cứng động lực. Các giá tri tần số riêng thu được bằng cách cho định thức của các ma trận độ cứng động lực bằng không.
Tất nhiên, độ chính xác tuyệt đối của DSM sẽ phụ thuộc vào phương trình vi phân chủ đạo. Ví dụ, các DSM dựa trên mô hình dầm Timoshenko sẽ cho ta các nghiệm trên miễn tần số chính xác hơn khi sử dụng mô hình dầm Euler — Bernoulli. Khi đó, các dạng dao động tự nhiên có thé được tìm thay khi gan cac diéu kién bién động lực. Nhu vay, các tính năng chia lưới va ghép nỗi phân tử của FEM có thể được áp dụng ở phương pháp độ cứng động lực DSM.
Sự khác biệt với FEM là quá trình ghép nối các phần tử phải được lặp nhiều lần để thu được các giá trị tần số riêng. Phương pháp phân tích phố (Spectral Analysis Method — SAM) Các nghiệm từ phương trình vi phân chủ đạo được xây dựng trong miễn thời gian có thể được phân loại thành hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất bao gồm các nghiệm trên miễn thời gian, chăng hạn như các nghiệm tích phân số và các nghiệm phân tích đa thức, chúng thường được sử dụng dé phân tích các dao động. Nhóm thứ hai gồm các nghiệm trên miễn tần số, trong SAM các nghiệm của phương trình vi phân chủ đạo được thé hiện bằng cách chồng một số lượng vô hạn các dạng sóng ứng với các tần số khác nhau (hoặc thời gian).
Điều nay tương ứng với các nghiệm trong biến đổi Fourier liên tục. Cách tiếp cận này bao gồm việc xác định một tập hợp vô hạn các thành phần phố (hoặc hệ số Fourler) trong miền tần số và thực hiện Fourier nghịch đảo để có được biểu thức thời gian ban đầu. Các DFT là xấp xỉ của một Fourier biến đổi liên tục. Ngược lại với các Fourier biến đổi liên tục, các nghiệm được biểu diễn dưới dạng tần số khi rời rạc nhưng các giá trị tần số này có giới hạn và do đó có một ưu điểm rất lớn là ta có thể sử dụng các biến đối Fourier nhanh (FFT) dé tính toán DFT và nghịch đảo của nó về miền thời gian ban dau.
Vì vậy, việc sử dụng các thuật toán FFT có thé giải quyết hiệu quả khi kết cau dao động dưới tần số cao. Theo đó, DFT/FFT dựa trên phương pháp phân tích phố (SAM) có thé cung cấp các nghiệm rất chính xác (Lee 2009, Newland 2012). Phương pháp phan tử phổ (Spectral Element Method — SEM) Phương pháp phan tử phô (SEM) là sự kết hợp của các tính năng chính của phương pháp phần tử hữu hạn (FEM) thông thường. phương pháp độ cứng động lực (DSM) và phương pháp phân tích phô (SAM).
Như SEM là một phương pháp phân tích miền tan số dựa trên lý thuyết biến đổi Fourier rời rac DFT/ biến đối Fourier nhanh FFT (Discrete Fourier Transform/ Fast Fourier Transform) do đó miễn tần số hay miễn thời gian được xác định chính xác, phương pháp này có thé chia nhỏ các thành phan kết cau với kích thước bât kì mà không cân quan tâm đên sự giản đoạn về kêt câu hay vật liệu bên trong, và giảm các bước tính toán (Lee 2009). Phương pháp phan tử phố (SEM) có thé coi là sự kết hợp những tinh năng chính của FEM, DSM va SAM. Các tinh năng chính của mỗi phương pháp có thé được tom tắt như sau: % Các tính năng chính của FEM: Chia lưới và ghép nối các phân tử hữu hạn. s Các tính năng chính cua DSM: Xác định các ma trận độ cứng động lực, xây dựng một số lượng tối thiểu các bậc tự do DOEs.
% Các tính năng chính của SAM: Ghép nối các dạng sóng dựa trên lý thuyết DFT và thuật toán FFT. Như vậy, các Phan tử phố có thé được ghép nối dé tạo thành hệ phương trình ma trận tong thé, bài toán nay sẽ được giải bang cách sử dụng các kỹ thuật ghép nối giống như sử dụng trong FEM thông thường. Các hệ phương trình ma trận tong thé sau đó được giải tại từng nút phổ, tất nhiên chúng đều liên tục khi rời rac trên miễn tan số. Cuối cùng, ta sử dụng hàm ngược FFT (inverse FFT — IFFT) dé chuyền đổi về thời gian ban đầu (nghiệm trên miễn thời gian).2_ Một số phương pháp chan đoán hư hỏng Trong vai năm gan đây đã có rất nhiều phương pháp xác định hư hỏng, khuyết tật của kết câu được phát triển dựa vào các thông số động lực học với các giải thuật và cơ sở dữ liệu từ thực nghiện khác nhau, với những ưu nhược điểm khác nhau.
Đề phát triển hoặc lựa chọn phương pháp xác định khuyết tật kết câu SDIM (Structural Damage Identification Methods) là đánh tin cậy, phù hợp thì cần phải hiểu rõ mức độ ảnh hưởng của khuyết tật, hư hỏng đến các đặc tính động lực học của kết cau. Một số phương pháp khác xác định hư hỏng như: “Phuong pháp dựa trên sự thay đôi tan số tự nhiên (Frequency Change — based Damage Detection Method). ¢ >, Phương pháp thay đổi dạng dao động (Modal assurance criterion). s* Phuong pháp độ cong dao động (Mode Shape Curvature-based Damage Detection Method).
Phương pháp dựa trên năng lượng biến dang (Modal Strain Energy-based Damage Detection Method) 2. Phương pháp dựa trên sự thay đổi tan số tự nhiên Phương pháp dựa trên sự thay đổi tần số tự nhiên (Frequency Change — based Damage Detection Method), được dé cập trong nghiên cứu của Adams va cộng sự (1978), Cawley và Adams (1979), từ kết quả nghiên cứu cho thấy khi xuất hiện hư hỏng do suy giảm độ cứng kết cấu sẽ dẫn tới suy giảm tần số dao động riêng so với kết cau không hư hỏng. Nhìn chung, phương pháp này được Salawu (1997) nhận xét là khi hư hỏng xuất hiện trong kết cau gây ra sự thay đổi tần số dao động riêng so với kết cau không hư hong, tuy nhiên chỉ dựa vào sự thay đồi tần số tự nhiên có thé không đủ để xác định vi trí hư hỏng.2 Phương pháp thay đổi dang dao động Phương pháp thay đổi dạng dao động (Modal Assurance Criterion — M.C) được giới thiệu bởi Rigner (1998), Fotsch và Ewins (2000), Allemang (2003), Pastor va cộng sự (2012), M.C (Modal Assurance Criterion) là một thống kê chỉ thị sự tương đồng giữa các mô hình, hay giữa các dạng dao động khác nhau của hai mô hình.C nhận các giá trị 0 và 1, với giá trị 0 ta có sự không tương đồng hay không phù hợp của các dạng dao động va giá trị bang 1 chỉ ra sự phù hợp hoan toàn của các dạng dao động. Dựa vào giá trị M.C ta đánh giá có dau hiệu sự sai khác trong hai mô hình với nhau hay không.
từ đó dự đoán được mô hình có hư hỏng hay không. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ cho ta biết mô hình có hư hỏng hay không, chứ không cho ta xác định được vi trí hư hỏng cua dầm.3 Phương pháp dựa trên độ cong dạng dao động Pandey và cộng sự (1991) đã giới thiệu một phương pháp dựa trên sự thay đôi độ cong dạng dao động (Mode Shape Curvature-based Damage Detection Method). Khi có hư hỏng xảy ra dẫn đến có sự thay đối trong đường cong dạng dao động, đường cong dạng dao động được xác định bang dao ham cấp hai của vecto chuyén VỊ. Dựa trên việc phân tích mô hình trên phần mém phân tử hữu hạn dé tạo ra hư hỏng trên dầm ta giảm hệ số độ cứng tại vi trí giả định.
Nhờ vào giá tri chuyển vi ở các dạng dao động khác nhau của trường hợp trước và sau hư hong, ta tính được đường cong dạng đao động (Mode Shape Curvature). Sau khi có đường cong dạng dao động của mô hình không hư hỏng và mô hình hư hong, ta tính được độ khác biệt giữa các gia tri của hai đường cong.