Đặt vấn đề Theo dõi sức khỏe cấu trúc (SHM: Structural Health Monitoring) nhằm mục đích cung cấp mọi thông tin về sức khỏe kết cấu trong thời gian tôn tại của nó, chan đoán “tình trạng” của các thành phan vật liệu, các bộ phận cấu thành kết cau nói chung. Trạng thái của kết cấu phải được duy trì theo quy định thiết kế. Giữa những phương pháp theo dõi sức khỏe kết cấu (SHM) theo phương pháp không phá hủy (NDE) thì phương pháp trở kháng (Impedance method) dưa vào tim những thay đổi điện trong trở kháng cơ điện của thiết bị áp điện (Piezoelectric device) được liên kết trên kết cau, đã được mở rộng nghiên cứu và áp dụng để tìm ra hư hỏng trong kết cấu. Cac vat liệu này đã được sử dung rộng rãi trong các ứng dụng động lực học kết cấu bởi vì chúng có trọng lượng nhẹ, thiết thực, không tốn kém và có nhiều hình dạng khác nhau từ các miéng mỏng hình chữ nhật tới các hình dạng phức tap được sử dụng trong sản xuất.
Do đó kích thước và trọng lượng của miếng PZT là không đáng ké so với kết câu chủ nên không ảnh hưởng đến đặc trưng động lực học của kết cấu [1]. Tuy nhiên tinh chất phụ thuộc mạnh vao sự biến đổi nhiệt độ của vật liệu áp điện có ảnh hưởng rất lớn kết quả chân đoán của kết cau thực. Các nghiên cứu cho thay khi nhiệt độ biến thiên sẽ g y ra sự thay đổi tín hiệu của trở kháng trong miền tần số cả về trục tung lẫn trục hoành. Với mục đích hạn chế sự ảnh hưởng của nhiệt độ tới kết quả tín hiệu của trở khang gần đ y đã có nhiều bài báo học thuật và nghiên cứu liên quan dén van đê này.
Chương 2 : Tổng quan 2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu phương pháp trở kháng ngoài nước 2.1 Các nghiên cứu về phương pháp trở kháng nói chung Năm 1994, lần đầu tiên C. Liang va các cộng sự giới thiệu phương pháp ph n tích trở kháng cho kết cấu thông minh [2|. Họ đã rút ra được sự liên quan giữa trở kháng động lực học của miếng PZT với trở kháng cơ của kết cấu chủ và chứng minh nó bằng nhiều thí nghiệm khác nhau. Nghiên cứu đã sử dụng tần số kích thích cao loại lớn hơn 30kHz thông qua bé mặt liên kết tam PZT dé tim ra những thay đổi cơ học trong trở kháng cơ của kết cau chủ.
Sun và các cộng sự đã tiến hành thực hiện các phép đo thử nghiệm thông qua cảm biến áp điện trở kháng [3]. Sun và các cộng sự đã sử dụng phương pháp trở kháng dé kiểm tra kết cau giàn (hình 2.1) bang cách sử dụng thuật toán thống kê để đánh giá tình trạng hư hỏng. Sun và các cộng sự cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của phạm vi tan số khác nhau va mức độ kích thích. parabel pont | MUffipkoxec TESIONA OB! russ and retays impedance anatyzer Bus (tˆ Processing | = a j B graphic §m cesplay 2 apps threaded lược ph connector giờ] LIN | OF fasta IO} node A PO an sode D `4 Pm Deirin ball Hình 2.
Sun va các cộng sự đã sử dụng phương pháp trở kháng dé kiểm tra kết cau giản [3] Năm 1995, Z. Chaudhry và các cộng sự sử dụng phương pháp trở kháng dé tìm hư hỏng của kết cau trên một chiếc máy bay Piper Model 601P [4]. Các cam 9 Chương 2 : Tổng quan biên trong nghiên cứu này đã đưa ra cả vi trí và khoảng cach hu hỏng. Các cảm biên trở kháng cho thấy chỉ cực kỳ nhạy cảm với mức độ hư hỏng cục bộ (Hình 2.
1/8 turn on local bolt : ' (ARmdicerot-aSnls) Frequency (kHz) Hình 2.2 : Theo dõi hai khung chính kết nối với th n máy bay phía sau đến đuôi đứng của máy bay Piper Model 601P [4]. Sự thay đối trong dẫn nạp, thực tế do nới lỏng các bu lông, dễ dàng được phát hiện Năm 1996, X.Wang và các cộng sự mở rộng nghiên cứu của C. Liang và các cộng sự (1994) cho sử dụng nhiều bộ kích thích PZT được dán lên kết cấu cả hai mặt và chứng thực khả năng cảm biến và kích thích của chúng, dựa vào việc theo dõi sự dẫn nạp điện trên trở kháng kết cau, họ chứng minh rang nó có khả năng tìm ra ứng xử của kết cầu thông qua việc đo trở kháng điện của PZT [5, 6]. Esteban mở rộng mô hình số dựa vào lý thuyết truyền sóng để xác định phạm vi cảm biến của phương pháp trở kháng [1].
Trong nghiên cứu của Esteban bao gom nghiên cứu tham số trên khu vực cảm biến của một bộ cảm biến PZT/thiết bị truyền động bởi xem xét những thay đổi của những hệ số và hình học như là ảnh hưởng của tải khói lượng, sự không liên tục trong mặt cắt ngang, liên kết bulông, năng lượng xuyên qua lớp liên kết (energy absorbent interlayers). Do chính xác tại phạm vi tần số cao và xác định năng lượng tiêu hao trở nên khó khăn và ít thông tin được thu thêm. Nhìn chung, phạm vi cảm biến của trở kháng có quan hệ gân đặc trưng vật liệu của kêt câu chủ, hình học, phạm vi tân sô được sử 10 Chương 2 : Tổng quan dụng và đặc trưng vật liệu của PZT. Dựa trên những kiến thức thu được thông qua nghiên cứu các trường hợp khác nhau, người ta đã ước tính rang các khu vực cảm biến của một PZT có thé thay đổi từ 0,4 m (bán kính cảm biến) trên kết cấu composite đến 2m trên thanh kim loại đơn giản.
Tan số dao động cao hơn 500 kHz cho thay không có lợi, bởi vì các khu vực cảm biến trở nên vô cùng nhỏ va các cảm biến PZT hiển thị nhạy cảm với các điều kiện bất lợi liên kết hoặc chính bản th n PZT chứ không phải là ứng xử của kết cau được theo dõi. Wang và các cộng sự thé hiện một mô hình toán học diễn ta sự tương thích của biến dạng giữa miếng PZT và một dầm hoặc tắm [7]. Quan hệ giữa điện dung tĩnh cua PZT và biến dạng của kết cầu được thiết lập và biến dạng của kết cau được nhận thấy từ những thay đổi điện dung của PZT. Năm 1997, Gaul đã đưa ra bán chủ động liên kết (semi-active joint) bởi sử dụng thiết bị truyền động (actuator) áp điện [8].
Thiết bị truyền động đã được sử dụng dé điều khiến lực đặt trong liên kết bulông cũng như ngăn can dao động trong kết cầu dựa vào việc điều chỉnh ma sát. Raju và các cộng sự mở rộng nghiên cứu cho thay anh huong của tham số trở kháng như mức độ kích thích của bộ kích thích, kiểm tra chiều dai d y dẫn, sử dụng một d y duy nhất để gắn vào nhiều bộ cảm biến, và thay đổi điều kiện biên [9]. Raju đã kết luận rằng sự thay đối trong nhiều tham số không ảnh hưởng đáng kể đến tín hiệu trở kháng. Soh và các cộng sự sử dụng phương pháp trở kháng cho việc theo dõi một mẫu câu bêtông cốt thép [10].
Nghiên cứu bao gồm hai dầm dọc (5 x 0,25 x 1 m) đỡ một san day 0,1 m va tạo thành kết cấu bê tông cốt thép gia cường băng các thanh thép, đã phải chịu ba chu kỳ tải để g y ra vết nứt trong kết cấu. Tín hiệu của các cảm biến trở kháng năm trong vùng | n cận của hư hỏng đã cho thay thay đối lớn về tín hiệu, trong khi những hư hỏng ở xa là ít bị ảnh hưởng. Nếu có bất kỳ hư hỏng của chính miếng PZT hoặc lớp liên kết, tín hiệu có thé cho thay mot su thay đôi đột ngột hoặc xu hướng không ôn định ma không có đỉnh khác biệt trong đáp ứng tần số. II Chương 2 : Tổng quan Năm 2000, G.
Park và các cộng sự nghiên cứu mô hình cầu bao gồm thép góc, thép chữ C, thép tam, và được liên kết với nhau hơn 200 bulông, như thé hiện trong (Hình 2. Kích thước của kết cấu nay là cao 1,8 m va nặng hơn 250 kg. Nghiên cứu được thực hiện dưới các điều kiện môi trường không kiểm soát được, thay đối tải khối lượng (mass loading), nhiệt độ (temperature), và hoạt động dao động (operational vibration). Khả năng của phương pháp trở kháng dé phát hiện và ph n biệt hư hỏng mới bat đầu từ những thay đổi đã được chứng minh.
P#T 1 RCeSPV2NE1t40G 3 Hình 2.1 : Một mô hình % mặt cắt cầu thép (steel bridge section) [11]. Các số liệu P272 ODO varstees OoOosmage t OOsmnage 2 8 Szrsee 2 cho thấy ảnh hưởng cục bộ của phương pháp trở kháng. Có thể xác định hư hỏng của liên kết bulông (bulông bị nới lỏng) dựa vào cảm biến để tìm ra hư hỏng trong kết cấu. Ngày nay phương pháp trở kháng đã được sử dụng dé tìm ra những hư hỏng trong kết cau.
Cho thay sự thuận lợi của phương pháp trở kháng cũng như lý thuyết vẻ vật liệu áp điện dựa vào cam biến. Hơn nữa, phương pháp trở kháng cũng được sử dụng để nghiên cứu liên kết bulông trong kết cầu đường ống của G. Park và các cộng sự (2001) [12]. Park và các cộng sự [13]sử dụng cảm biến trở kháng để tìm và sửa chữa sự nới lỏng của liên kết bulông trong kết cấu.
Cảm biến áp điện (piezoelectric sensor) được sử dụng dé do trở kháng của kết cau. Sự nới lỏng của bulông đã được xác định giữa bulông và dai Ốc. Phương pháp trở kháng nảy chỉ tìm những thay đổi tín hiệu trở kháng trong một giới hạn cảm biến. Cho nên, phương pháp này không thích hợp cho nghiên cứu 12 Chương 2 : Tổng quan hu hỏng trong phạm vi rộng.
đo cảm biến chủ động áp điện (piezoelectric active sensing measurements) đòi hỏi hệ thống thu dữ liệu lớn và đắt tiền hoặc máy ph n tích trở kháng. Do trở kháng trong giai đoạn trước và sau hư hỏng dé xác định vi tri của hư hỏng hoặc mức độ hư hỏng. Tae đã công bố một nghiên cứu về phương pháp theo dõi chân đoán cho các kết cấu mối nối bu lông sử dụng cảm biến trở kháng không d y đa kênh va PZT đa diện [14]. Các bước sau đã được thực hiện để hoàn thành thí nghiệm : Thứ nhất, một PZT- da giao diện được thiết kế để theo dõi sự nới lỏng trong kết nối bulong dựa trên sự thay đổi tín hiệu trở kháng cơ điện (EM).
Thứ hai, một nút cảm biến trở kháng không d y được thiết kế để tự hoạt động. có chi phí thấp va đa kênh theo dõi. Nền tảng cảm biến Imote2 được chọn sử dụng vì cơ sở điều hành tốc độ cao của nó, yêu cầu điện năng thấp và bộ nhớ lưu trữ lớn.