MỞ ĐẦU Bài toán tối ƣu kết cấu có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực cơ học công trình, đòi hỏi phải nghiên cứu đầy đủ cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm. Vấn đề tối ƣu kết cấu đƣợc nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu theo nhiều hƣớng khác nhau. Trong vòng nửa thế kỉ nay, một ngành toán học mới - lý thuyết quy hoạch toán học - đã hình thành và phát triển mạnh mẽ do những đòi hỏi cấp bách vè kinh tế để thực hiện các chỉ tiêu tối ƣu: nhiều nhất, ít nhất, nhanh nhất, rẻ nhất, tốt nhất.Với lý thuyết quy hoạch, ngƣời kĩ sƣ đƣợc trang bị thêm một công cụ toán học rất có hiệu lực để giải các bài toán tối ƣu mà trƣớc đây các phƣơng pháp cổ điển chƣa thể giải đƣợc. Phƣơng pháp nguyên lý cực trị Gauss do GS.
Hà Huy Cƣơng đề xuất là phƣơng pháp cho phép áp dụng nguyên lý cực trị Gauss - vốn đƣợc phát biểu cho hệ chất điểm - để giải các bài toán cơ học vật rắn biến dạng nói riêng và bài toán cơ học môi trƣờng liên tục nói chung. Đặc điểm của phƣơng pháp này là bằng một cái nhìn đơn giản luôn cho phép tìm đƣợc kết quả chính xác của các bài toán dù đó là bài toán tĩnh hay bài toán động, bài toán tuyến tính hay bài toán phi tuyến. Đối tƣợng, phƣơng pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài Trong luận văn này, tác giả sử dụng phƣơng pháp nguyên lý cực trị Gauss nói trên để xây dựng và giải bài toán tối ƣu thể tích dàn. Mục đích nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu tối ưu kết cấu dàn bằng phương pháp mới” Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 1.
Trình bày khái niệm chung về tối ƣu hóa kết cấu 2. Trình bày cơ sở lý thuyết tính toán tối ƣu trong nghiên cứu kết cấu dàn 3. Sử dụng phƣơng pháp nguyên lý cực trị Gauss để xây dựng và giải bài toán tối ƣu thể tích dàn. Lập chƣơng trình máy tính điện tử cho các bài toán nêu trên 2 CHƢƠNG 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TỐI ƢU HÓA KẾT CẤU 1.
Một số vấn đề hợp lý hóa trong lựa chọn mặt cắt và giải pháp kết cấu: Trong quá trình nghiên cứu sử dụng kết cấu chịu lực, từ lâu ngƣời ta luôn suy nghĩ sáng tạo, nhằm đạt đƣợc mục đích thỏa mãn các yêu cầu thiết kế nhƣng tiết kiệm vật liệu, giảm giá thành. Có thể nêu ra một số cải tiến dƣới đây nhằm hợp lý hóa việc sử dụng tiết kiệm vật liệu. Mặt cắt hợp lý trong cấu kiện chịu uốn Do đặc điểm phân bố ứng suất theo chiều cao tiết diện, để tận dụng tối đa vật liệu ngƣời ta đã chế tạo cấu kiện với các dạng mặt cắt khác nhau theo nguyên tắc: bố trí vật liệu ở vùng có ứng suất lớn và giảm vật liệu ở vùng có ứng suất nhỏ. Với vật liệu có giới hạn bền kéo và nén nhƣ nhau, nếu tải trọng tác dụng chủ yếu gây uốn trục cấu kiện trong mặt phẳng yOz thì tiết diện hợp lý có dạng chữ I (hình 2.1b), trƣờng hợp mặt phẳng tải trọng có thể thay đổi phƣơng nhƣng vẫn chứa trục cấu kiện, tiết diện hợp lý có dạng vành khuyên (hình 1.
Để sử dụng hợp lý tính chất của mỗi loại vật liệu ngƣời ta còn dùng cấu kiện liên hợp bê tông – thép với phân bố hợp lý: bê tông dùng ở vùng chịu nén, còn thép dùng ở vùng chịu kéo (hình 1.1 Với nguyên tắc nhƣ trên, trong cấu kiện bản chịu uốn, ngƣời ta đã sử dụng bản ba lớp dạng sandwich, trong đó hai lớp biên chịu lực chính làm bằng vật liệu cƣờng độ cao có chiều dày nhỏ, còn lớp giữa có tính chất cấu tạo với chiều dày lớn, chịu cắt và kết hợp cách âm, cách nhiệt (hình 1. Giải pháp kết cấu hợp lý Để vƣợt nhịp lớn không thể cải tiến bằng cách chỉ thay đổi hình dáng mặt cắt cho kết cấu dầm đơn giản. Trọng lƣợng bản thân và cấu tạo kiến trúc không cho phép thực hiện giải pháp mặt cắt đơn giản nhƣ trên. Ngƣời ta chuyển qua kết cấu dàn dầm, mỗi thanh dàn có chiều dài ngắn đáng kể so với nhịp dầm.
Để tăng khả năng ổn định cho các thanh chịu nén trong dàn ngƣời ta thƣờng sử dụng thanh ghép hoặc thanh tiết diện vành khuyên. Để hạn chế khả năng biến dạng và nội lực trong kết cấu, ngƣời ta sử dụng hệ ghép.2b cho ta kết quả giảm nội lực (20-25%) của phƣơng án ghép một dầm đơn giản có một đầu thừa với một dầm đơn giản hai đầu khớp so với phƣơng án sử dụng hai dầm đơn giản có cùng chiều dài nhịp nhƣ nhau (hình 1. Chiều cao tiết diện và đƣờng trục thay đổi hợp lý Với dầm có một đầu ngàm, một đầu tự do chịu lực tập trung ở đầu tự do, biểu đồ mômen uốn có dạng tam giác (hình 1.3a), do đó sử dụng kiểu dầm có chiều cao thay đổi nhƣ trên hình 1.3b sẽ tiết kiệm đƣợc vật liệu. Với vòm 3 khớp chịu tải trọng phân bố đều nhƣ trên hình 1.4a mômen uốn tại tiết diện k bất kỳ đƣợc xác định theo công thức: ( ) ( ) ( ) (1.1) Trục hợp lý là trục chọn sao cho mômen uốn trong vòm tại mọi tiết diện đều bằng không, khi đó nội lực trong vòm chỉ có lực dọc nén khác không.
Vì vậy có thể sử dụng vật liệu chịu nén tốt nhƣ gạch đá để xây vòm.1) ta tìm đƣợc phƣơng trình trục hợp lý của vòm: ( ) ( ) (1.3 Dạng trục hợp lý của vòm ba khớp trong trƣờng hợp này có cùng dạng với biểu đồ mômen uốn trong dầm đơn giản cùng nhịp, cùng chịu tải trọng (hình 1.4b) với hệ số đồng dạng bằng 1/H.4 Ngƣời ta còn kết hợp khả năng của từng loại cấu kiện chịu uốn và chịu kéo nén để lập hệ liên hợp (hình 1.5a) hoặc hệ dầm – dây (hình 1.5 Khi công cụ mới: lý thuyết quy hoạch toán ra đời, ngƣời thiết kế có điều kiện nâng giải pháp hợp lý thành phƣơng án tối ƣu. Khái niệm về bài toán tối ƣu hóa kết cấu: Dạng chung của một bài toán tối ƣu hóa kết cấu gồm có: các biến thiết kế, hàm mục tiêu và hệ ràng buộc. Các biến thiết kế Còn gọi là véctơ biến thiết kế, là những đại lƣợng đặc trƣng của kết cấu, có thể thay đổi giá trị trong quá trình tối ƣu hóa. Các đại lƣợng đặc trƣng này có thể là kích thƣớc hình học, tính chất cơ học, vật lý của vật liệu kết cấu.
Biến thiết kế về kích thƣớc hình học có thể là chiều rộng, chiều cao của tiết diện, diện tích mặt cắt ngang của thanh dàn, mômen quán tính hoặc mômen kháng uốn của phần tử chịu uốn, chiều dày của tấm. Biến thiết kế về tính chất cơ lý của vật liệu có thể là moduyn đàn hồi, hệ số poisson, hệ số dãn nở do nhiệt… là các tham số về điều kiện khai thác: hệ số quá tải, hệ số an toàn, hệ số ổn định, chỉ số độ tin cậy. Những biến loại này thƣờng ít đƣợc chọn làm biến thiết kế nhƣng có thể đƣợc xem xét tính chất bất định của chúng trong một số bài toán tối ƣu hóa kết cấu theo mô hình thống kê. Biến thiết kế cũng có thể là các tọa độ nút của các phần tử.
Biến thiết kế đƣợc gọi là liên tục nếu nó có thể nhận những giá trị bất kỳ trong một khoảng, miền liên tục. Ngƣợc lại, nếu biến thiết kế chỉ nhận những giá trị riêng rẽ trong miền xác định của nó, ta có biến thiết kế rời rạc. Tuy nhiên, trƣờng hợp các giá trị của biến rời rạc đƣợc phân bố gần lấp đầy trên một khoảng, thì có thể áp dụng các phƣơng pháp nhƣ đối với 7 biến liên tục và lựa chọn xấp xỉ đủ gần để tối ƣu hóa giá trị rời rạc phù hợp với thực tế. Về mặt toán học tập hợp đầy đủ n biến thiết kế của một kết cấu đƣợc biểu diễn thành một véctơ X = {x1, x1,… xn}, gọi là véctơ biến thiết kế trong không gian thiết kế.
Trƣờng hợp cần tìm hình dáng phần tử, hay trục của kết cấu dƣới dạng giải tích thì biến thiết kế có thể là một hay nhiều hàm số. Hàm mục tiêu Thể hiện mục đích của thiết kế thông qua đặc trƣng nào đó của kết cấu, biểu diễn dƣới dạng một biểu thức toán học, chứa các biến thiết kế.3) Trong bài toán tối ƣu hóa kết cấu, các hàm mục tiêu có thể là thể tích kết cấu, trọng lƣợng kết cấu, tổng chi phí của kết cấu. Mục đích của thiết kế là tìm véctơ biến thiết kế làm cho hàm mục tiêu đạt giá trị nhỏ nhất (min), hay còn gọi là cực tiểu hóa hàm mục tiêu. Nhƣng nếu hàm mục tiêu là độ tin cậy của kết cấu thì yêu cầu cực đại hóa sẽ đƣợc đặt ra.
Ngƣời ta cũng có thể dễ dàng chuyển bài toán từ cực đại sang bài toán cực tiểu hóa bằng cách đổi dấu hàm mục tiêu.4) Trƣờng hợp biến thiết kế là các hàm thì mục tiêu là một phiếm hàm. Hệ ràng buộc Là các đẳng thức, bất đẳng thức mô tả quan hệ giữa các biến thiết kế, và khoảng xác định của mỗi biến.5) ( ) Trong đó: , là giới hạn dƣới và giới hạn trên của biến .5) tạo thành một không gian thiết kế.5b) liên quan đến điều kiện cân bằng, các tiêu chuẩn quy định về độ bền, độ cứng, độ ổn định 8 và tần số dao động riêng của kết cấu. Các ràng buộc có thể ở dạng tƣờng minh hoặc dạng hàm ẩn đối với các biến thiết kế.5c) quy định miền biến thiên của mỗi biến thiết kế, ví dụ quy định phạm vi của chiều dày tấm, chiều cao tiết diện, chiều dài nhịp kết cấu. Trong trƣờng hợp giải bài toán tối ƣu kết cấu theo mô hình thống kê, có xét đến tính chất ngẫu nhiên của các tham số, hệ (1.5) đƣợc viết dƣới dạng xác suất.
Bài toán tối ƣu đa mục tiêu Trƣờng hợp bài toán liên quan đến việc phân tích, lựa chọn quyết định hƣớng vào nhiều mục tiêu khác nhau, khi đó ta phải xét đồng thời nhiều hàm mục tiêu. Việc giải quyết bài toán đa mục tiêu nói chung phức tạp. Có nhiều phƣơng pháp giải khác nhau nhƣng đƣờng lối chung thƣờng thực hiện qua hai bƣớc sau đây [13]: Bước 1: Tìm tất cả các phƣơng án tối ƣu theo Pareto Bước 2: Xử lý, thu gọn tập tối ƣu Pareto để nhận đƣợc nghiệm tối ƣu Trong [13] giới thiệu hai hƣớng mới giải quyết bài toán tối ƣu đa mục tiêu (TƢ ĐMT): bằng lý thuyết logic – mờ và bằng lý thuyết đồ thị.