mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đƣơng sắp sửa"[51,tr. Bƣớc vào thập niên 30, công cuộc khai thác thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc ở Việt Nam đã đẩy đến đỉnh cao hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa thực dân, chế độ thuộc địa đã hình thành rõ nét, các tầng lớp tiểu tƣ sản, tƣ sản thành thị đã phát triển đông đảo, cùng với sự phát triển đô thị và sự mở rộng quy mô của bộ máy thực dân. Một thế hệ thanh niên trí thức đƣợc đào tạo từ nhà trƣờng Pháp Việt đã có một cái vốn Pháp ngữ khá dồi dào, họ am hiểu văn hóa phƣơng Tây, đặc biệt là văn chƣơng lãng mạn Pháp. Họ cảm thấy bừng tỉnh về ý thức cá nhân, yêu cầu giải phóng cá nhân và phát triển cá nhân khỏi khuôn khổ ý thức, lễ giáo phong kiến.
Nếu văn chƣơng lãng mạn Pháp giúp họ phát hiện cái tôi cá nhân chủ nghĩa với ý nghĩa tuyệt đối thì trong hoàn cảnh Việt Nam những năm đầu 30, văn chƣơng lãng mạn Việt Nam giúp họ thể hiện nó. Cũng đầu những năm 30, cuộc khủng bố trắng của thực dân với quy mô dã man chƣa từng thấy, thêm vào đó, cuộc khủng hoảng kinh tế đang diễn ra sâu sắc trong thế giới tƣ bản mà Việt Nam là một thuộc địa phải chịu chung một số phận, đã tạo ra sự hoang mang thất vọng trong thanh niên. Họ muốn thoát ly thực tế đen tối, xa lánh chính trị mà họ cảm thấy ồn ào mà vô hiệu bằng cách tìm đến con đƣờng văn chƣơng lãng mạn. Nhƣ vậy, không nên xem Thơ mới chỉ là hiện tƣợng thơ ca đơn thuần riêng lẻ mà phải gắn bó với nguồn gốc xã hội lịch sử cụ thể của nó.
Từ năm 1930, nhiều sự kiện lịch sử, chính trị, văn hóa, tƣ tƣởng với yêu cầu cấp bách có tính chất kịch 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com liệt ảnh hƣởng đến xã hội, tác động đến văn học, tạo sự chuyển biến hiện đại hóa về mặt xã hội cũng nhƣ văn chƣơng. Do vậy, nên chọn mốc 1930 làm khởi điểm phong trào Thơ mới, và kết thúc năm 1945, khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, xóa bỏ ách nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm trên đất nƣớc ta, đem lại độc lập tự do cho dân tộc, đƣa đất nƣớc sang một kỷ nguyên mới, làm thay đổi toàn bộ xã hội về mọi mặt, trong đó có văn học. Thế là năm 1945 đã mở ra một giai đoạn văn học mới và tất nhiên là phải khép lại giai đoạn đƣợc mở ra từ 1930. Phải lƣu ý rằng trong giai đoạn 1930 - 1945 cũng có những nhà thơ không thuộc Thơ mới, chẳng hạn nhƣ: Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải.
đã sáng tác thơ từ những năm 20, sau năm 1930 cũng tiếp tục làm thơ, vẫn tiếp tục mạch thơ cũ. Còn Tú Mỡ cùng Đỗ Phồn và nhiều nhà thơ trào phúng khác trong giai đoạn này không thể xếp vào phạm trù Thơ mới. Chính Hoài Thanh và Hoài Chân cũng không tuyển thơ của Tú Mỡ trong Thi nhân Việt Nam. Quả thật, thơ Tú Mỡ mang hình thức truyền thống với nội dung đả kích, trào phúng.
Riêng Tố Hữu là trƣờng hợp đặc biệt, làm thơ từ những năm 1937 khi phong trào Thơ mới phát triển ở đỉnh cao. Tác giả ý thức rằng khuôn phép thơ cũ gò bó, khó mà nói hết đƣợc nhịp sống mới mẻ của thời đại, nếu nhƣ không có một hình thức khác phóng khoáng hơn - hình thức Thơ mới. Từ ấy đƣợc sáng tác với ý thức nhƣ vậy. Cho nên Xuân Diệu mới cho rằng thơ Tố Hữu trƣớc 1945 thoát thai từ phong trào Thơ mới.
Nhƣng thơ Tố Hữu khác Thơ mới ở chỗ: thi hứng hoàn toàn khác và mới, một thi hứng của tình cảm, tƣ tƣởng cách mạng dƣợc biểu hiện dƣới hình thức Thơ mới. Trên quỹ đạo của hình thức Thơ đƣơng thời, Tố Hữu đã phát hiện lại cái tôi nhiệt huyết cảm tính, đem cái tôi cá nhân gắn với cái ta đoàn thể quần chúng, tạo ra những vần thơ bay bổng và sức mạnh. Nhƣ vậy, không phải trong những năm 1930 - 1945 mọi sáng tác thơ đều là Thơ mới, mà có nhiều dòng thơ cùng tồn tại. Thơ mới ra đời và nhanh chóng chiếm đƣợc ƣu thế trên thi đàn, thơ cũ cũng vì thế mà từ từ rút lui vào hậu trƣờng.
Bên cạnh đó còn có một dòng thơ sôi sục đấu tranh của các chiến sĩ cộng sản, dòng thơ cách mạng, tiêu biểu là Từ Ấy của Tố Hữu. Và một dòng nữa - dòng thơ trào phúng với Tú Mỡ. Tất cá các dòng trên sau Cách mạng tháng Tám, hợp lƣu và biến 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển thành dòng thơ cách mạng và kháng chiến sau năm 1945. Cách mạng tháng Tám thắng lợi, hầu hết các nhà Thơ mới đều đi theo cách mạng, họ tự nguyện hòa cái tôi của mình vào cái ta cộng đồng, cái ta dân tộc.
Họ đã lột xác trở thành các nhà thơ của quần chúng cách mạng. Tiếng thơ của họ không còn quanh quẩn trong vòng cái tôi tự biểu hiện mà thay vào đó là nhằm biểu hiện đời sống cách mạng, kháng chiến sôi động, hào hùng của nhân dân, của dân tộc. Rồi những nhà thơ trƣởng thành trong kháng chiến nhƣ: Chính Hữu, Trần Mai Ninh, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Bảo Định Giang, Xuân Miễn, Nguyễn Viết Lãm, Lƣu Trùng Dƣơng, Lƣơng An vv. không phải là những nhà Thơ mới.
Thơ họ khác Thơ mới, khi mà ý thức hệ thay đổi, cảm hứng về nhân dân, về cách mạng đầy ắp, dồn nén. Về thi pháp, cùng nằm trong phạm trù hiện đại nên ta có thể thấy những câu thơ, thể thơ hao hao, na ná nhƣ Thơ mới. Nhƣng thật ra sau Cách mạng thơ đã thay đổi nhiều, khi tâm hồn của quần chúng kháng chiến dâng lên nhƣ nƣớc vỡ bờ, thơ ca - nhịp đập của trái tim - đã đi tìm hình thức mới để biểu hiện. Phải nói rằng, Thơ mới là một hiện tƣợng văn học có giá trị đầu thế kỷ XX.
Nó có một phạm vi lịch sử cụ thể, từ 1930 - 1945, trƣớc nó chỉ có mầm mống, đồng thời với nó, có nhiều trào lƣu thơ không phải thuộc Thơ mới và sau 1945 càng không phải là Thơ mới. Trong phạm vi lịch sử đó, Thơ mới có sự đổi mới đồng bộ nghệ thuật thơ: thi hứng hiện đại, thi pháp hiện đại, tạo thành tựu xuất sắc trong thơ Việt Nam hiện đại, để lại dấu ấn sâu sắc rõ rệt trong thơ nhƣng không tránh khỏi hạn chế. Sự đổi mới ấy có gốc rễ rất sâu vào truyền thống. Do vậy, Thơ mới có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, là một bộ phận chứ không phải là Thơ ca hiện đại nói chung, cần đƣợc đánh giá xứng đáng.
Thơ mới đã có những cách tân mạnh mẽ về thi hứng cũng nhƣ thi pháp. Trƣớc hết, và quan trọng nhất là đổi mới thi hứng. Thi hứng Thơ mới rất phong phú, phức tạp nhƣng có cốt lõi từ thi hứng thiên về cộng đồng, cái ta, bề rộng của thi hứng trung đại và cận đại chuyển sang thi hứng về cái riêng, cái tôi, bề sâu của thi hứng hiện đại. Thơ từ chỗ nhìn ra bên ngoài, quên chính mình đến tìm hiểu chính mình mà quên bên ngoài.
Bởi vậy trong Thơ mới xuất hiện nhiều chữ tôi với tƣ cách là đại từ làm chủ ngữ để khẳng định chủ thể sáng tạo, chủ thể cảm xúc và cũng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rất nhiều từ lòng tôi nhằm giải thích trạng thái tâm lý, tình cảm của chủ thể. Trong lịch sử thơ ca Việt nam, chữ tôi chƣa bao giờ xuất hiện nhiều nhƣ thế. Điều ấy cũng dễ hiểu, cá nhân bao đời bị kìm hãm bởi tƣ tƣởng phong kiến cho nên cái tôi của nhà thơ bị chìm đắm, hòa tan trong cộng đồng gia tộc xã hội, quốc gia nay đƣợc cởi trói, đƣợc giải thoát và đƣợc khẳng định. Cá nhân đƣợc giải phóng là nhân tố quyết định sự phát triển con ngƣời và cái tôi đƣợc đề cao, đƣợc tự do, tạo điều kiện cho sự sáng tạo, sự phát triển cảm xúc.
Thơ mới không chỉ biểu hiện cái tôi bề mặt, mà điều quan trọng tạo nên cái mới là đi sâu khám phá cái tôi cảm xúc thành thật. Sự thành thật của các nhà nghệ sĩ trƣớc hết là thành thật với bản thân mình, với chính mình, và từ đó thiết lập mối quan hệ với thế giới bên ngoài, thế giới độc giả. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh cho rằng sự đổi mới cảm xúc là ở chỗ thành thực. Khát vọng thành thật trong cảm xúc của Thơ mới là khát vọng đƣợc giãi bày mọi bí mật của cõi lòng riêng tƣ, từ nỗi buồn, sự cô đơn đến ghen tuông, hờn dỗi, tình yêu, đau khổ, cả những khát khao phóng túng, phi chuẩn mực.
Chính thành thật trong cảm xúc góp phần khẳng định nhân cách nhà nghệ sĩ. Các nhà Thơ mới không chỉ thành thật trong cảm xúc mà còn sẵn sàng sống trọn vẹn, sống tận cùng với cảm xúc của mình, nhƣ một cây kim bé nhỏ bị cuốn hút vào viên đá nam châm, không cần gƣợng giữ theo lối trung dung hay tiết dục của ngƣời xƣa. Chính sống trọn vẹn, sống tận cùng cảm xúc giúp nhà thơ vƣợt lên số phận, vƣợt lên chính mình để có sức sáng tạo lớn, điều kiện để hình thành phong cách nhƣ: “Thế Lữ một hồn thơ đẹp, nhiều lúc nhìn đời theo cảnh sắc thần tiên; Lƣu Trọng Lƣ đắm đuối trong tình và mộng; Huy Thông trữ tình và bi tráng, Nguyễn Nhƣợc Pháp duyên dáng trong nhiều tình ý thơ; Vũ Đình Liên, Thái Can, Lan Sơn gợi nhiều chia sẻ yêu thƣơng với những cảnh đời ngang trái, lụi tàn.12] Song cũng cần lƣu ý rằng, sống tận cùng, sống mãnh liệt cảm xúc một mặt sẽ khám phá những tinh tế nhất của tình cảm làm phong phú giàu có hồn thơ, mặt khác khi nhà thơ đƣa đẩy cảm xúc vƣợt giới hạn đƣờng biên sẽ trở nên kỳ dị. Khi khám phá cái tôi cảm xúc, Thơ mới đi sâu quan sát tinh vi thế giới tâm linh sâu thẳm, ở đó thi nhân đặc biệt quan sát phần hồn, một biểu hiện cao khiết của sự sống.
Khác với 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhà thơ trung đại, cảm hứng về hồn thi nhân, Thơ mới khai thác phần hồn của cái tôi chủ thể. Song với cảm xúc đầy cá tính sáng tạo nên phần hồn đƣợc cảm nhận nhƣ một sự thăng hoa uẩn ức riêng.