Nghiên cứu phương pháp giảng dạy thơ mới từ góc độ thi pháp tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn thạc sĩ phân tích phương pháp giảng dạy thơ mới từ góc độ thi pháp, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2010

95
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. CHƯƠNG 1: THƠ MỚI VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ THI PHÁP HỌC

1.1. Thơ mới – cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam

1.2. Hướng tiếp cận Thơ mới từ góc độ thi pháp

1.3. Thi pháp và thi pháp học

1.4. Các chỉnh thể văn học và các phạm trù thi pháp học

1.5. Tiếp cận Thơ mới từ góc độ thi pháp

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ MỚI TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI TỪ HƯỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP HỌC

2.1. Vị trí của Thơ mới trong chương trình dạy học văn ở nhà trường phổ thông hiện nay

2.2. Tài liệu hướng dẫn về giảng dạy Thơ mới cho giáo viên trong các nhà trường phổ thông

2.3. Thực trạng dạy văn của giáo viên ở các nhà trường phổ thông hiện nay

2.4. Định hướng đổi mới

2.5. Tìm hiểu thi pháp thể loại không tách rời với việc tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường

2.6. Tìm hiểu thi pháp thể loại là cơ sở để phát hiện nét độc đáo của thi pháp tác phẩm, thi pháp tác giả

2.7. Vận dụng thi pháp thể loại vào dạy học tác phẩm văn chương gắn liền với lý luận dạy học hiện đại

3. CHƯƠNG 3: TỪ HƯỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP ĐỔI MỚI QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC THƠ MỚI

3.1. Đổi mới trình tự phân tích tác phẩm

3.2. Về trình tự chung khi phân tích tác phẩm

3.3. Các bước phân tích tác phẩm thơ

3.4. Quy trình dạy học thơ theo hướng tiếp cận thi pháp

3.5. Yêu cầu kiến thức hỗ trợ

3.6. Thiết kế một số bài giảng về thơ mới bằng Phương pháp dạy Thơ mới từ góc độ thi pháp học

3.7. Yêu cầu về thể nghiệm

3.8. Mục đích thể nghiệm

3.9. Nội dung thể nghiệm

3.10. Thiết kế thể nghiệm

3.11. Bài 1 : Đây thôn Vĩ Dạ

3.12. Bài 2: Vội vàng

3.13. Tổ chức dạy thực nghiệm

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

NGUỒN TƯ LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phương pháp giảng dạy thơ mới hiệu quả

Phương pháp giảng dạy thơ mới là một lĩnh vực quan trọng trong giáo dục văn học. Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiệu quả không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về nội dung và hình thức của thơ mới mà còn phát triển khả năng cảm thụ văn học. Thơ mới, với những đặc điểm riêng biệt, đòi hỏi giáo viên phải có những phương pháp giảng dạy sáng tạo và phù hợp.

1.1. Đặc điểm của thơ mới trong giáo dục

Thơ mới mang trong mình những đặc điểm nổi bật như tự do về hình thức, sự phong phú trong ngôn ngữ và cảm xúc. Những đặc điểm này cần được giáo viên chú trọng khi giảng dạy để giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của thơ mới.

1.2. Tầm quan trọng của việc giảng dạy thơ mới

Giảng dạy thơ mới không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức văn học mà còn phát triển tư duy sáng tạo và khả năng cảm thụ nghệ thuật. Điều này góp phần nâng cao chất lượng giáo dục văn học trong nhà trường.

II. Những thách thức trong giảng dạy thơ mới hiện nay

Giảng dạy thơ mới hiện nay gặp phải nhiều thách thức, từ việc thiếu tài liệu đến sự lúng túng trong phương pháp giảng dạy. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

2.1. Thiếu tài liệu giảng dạy phù hợp

Nhiều giáo viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu giảng dạy thơ mới. Việc thiếu tài liệu chất lượng có thể ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy và học tập của học sinh.

2.2. Khó khăn trong việc truyền đạt nội dung

Giáo viên thường gặp khó khăn trong việc truyền đạt nội dung và ý nghĩa của các tác phẩm thơ mới. Điều này có thể dẫn đến việc học sinh không hiểu rõ về tác phẩm và cảm xúc của tác giả.

III. Phương pháp giảng dạy thơ mới hiệu quả

Để giảng dạy thơ mới hiệu quả, giáo viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy sáng tạo và phù hợp với đặc điểm của thơ mới. Các phương pháp này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn phát triển khả năng cảm thụ văn học.

3.1. Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập. Giáo viên có thể sử dụng các hoạt động nhóm, thảo luận để học sinh cùng nhau phân tích và cảm nhận tác phẩm.

3.2. Sử dụng công nghệ trong giảng dạy

Việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy thơ mới có thể tạo ra những trải nghiệm học tập thú vị cho học sinh. Các công cụ trực tuyến, video, và phần mềm hỗ trợ có thể giúp học sinh tiếp cận tác phẩm một cách sinh động hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn của phương pháp giảng dạy thơ mới

Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy thơ mới trong thực tiễn đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Học sinh không chỉ hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn phát triển khả năng tư duy và cảm thụ văn học.

4.1. Kết quả từ các bài giảng thực nghiệm

Nhiều bài giảng thực nghiệm đã cho thấy sự tiến bộ rõ rệt của học sinh trong việc cảm nhận và phân tích tác phẩm thơ mới. Học sinh có thể thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình một cách tự tin hơn.

4.2. Phản hồi từ học sinh

Phản hồi từ học sinh cho thấy họ cảm thấy hứng thú hơn với việc học thơ mới. Sự sáng tạo trong phương pháp giảng dạy đã giúp học sinh tiếp cận tác phẩm một cách gần gũi và dễ hiểu hơn.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai trong giảng dạy thơ mới

Giảng dạy thơ mới là một lĩnh vực cần được chú trọng trong giáo dục văn học. Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiệu quả sẽ giúp học sinh phát triển khả năng cảm thụ văn học và tư duy sáng tạo. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp giảng dạy mới để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.

5.1. Định hướng phát triển phương pháp giảng dạy

Cần có những định hướng rõ ràng trong việc phát triển phương pháp giảng dạy thơ mới, từ việc cập nhật tài liệu đến việc đào tạo giáo viên.

5.2. Tăng cường nghiên cứu và ứng dụng

Nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp giảng dạy mới sẽ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy thơ mới trong nhà trường, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trong thời đại mới.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đƣơng sắp sửa"[51,tr. Bƣớc vào thập niên 30, công cuộc khai thác thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc ở Việt Nam đã đẩy đến đỉnh cao hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa thực dân, chế độ thuộc địa đã hình thành rõ nét, các tầng lớp tiểu tƣ sản, tƣ sản thành thị đã phát triển đông đảo, cùng với sự phát triển đô thị và sự mở rộng quy mô của bộ máy thực dân. Một thế hệ thanh niên trí thức đƣợc đào tạo từ nhà trƣờng Pháp Việt đã có một cái vốn Pháp ngữ khá dồi dào, họ am hiểu văn hóa phƣơng Tây, đặc biệt là văn chƣơng lãng mạn Pháp. Họ cảm thấy bừng tỉnh về ý thức cá nhân, yêu cầu giải phóng cá nhân và phát triển cá nhân khỏi khuôn khổ ý thức, lễ giáo phong kiến.

Nếu văn chƣơng lãng mạn Pháp giúp họ phát hiện cái tôi cá nhân chủ nghĩa với ý nghĩa tuyệt đối thì trong hoàn cảnh Việt Nam những năm đầu 30, văn chƣơng lãng mạn Việt Nam giúp họ thể hiện nó. Cũng đầu những năm 30, cuộc khủng bố trắng của thực dân với quy mô dã man chƣa từng thấy, thêm vào đó, cuộc khủng hoảng kinh tế đang diễn ra sâu sắc trong thế giới tƣ bản mà Việt Nam là một thuộc địa phải chịu chung một số phận, đã tạo ra sự hoang mang thất vọng trong thanh niên. Họ muốn thoát ly thực tế đen tối, xa lánh chính trị mà họ cảm thấy ồn ào mà vô hiệu bằng cách tìm đến con đƣờng văn chƣơng lãng mạn. Nhƣ vậy, không nên xem Thơ mới chỉ là hiện tƣợng thơ ca đơn thuần riêng lẻ mà phải gắn bó với nguồn gốc xã hội lịch sử cụ thể của nó.

Từ năm 1930, nhiều sự kiện lịch sử, chính trị, văn hóa, tƣ tƣởng với yêu cầu cấp bách có tính chất kịch 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com liệt ảnh hƣởng đến xã hội, tác động đến văn học, tạo sự chuyển biến hiện đại hóa về mặt xã hội cũng nhƣ văn chƣơng. Do vậy, nên chọn mốc 1930 làm khởi điểm phong trào Thơ mới, và kết thúc năm 1945, khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, xóa bỏ ách nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm trên đất nƣớc ta, đem lại độc lập tự do cho dân tộc, đƣa đất nƣớc sang một kỷ nguyên mới, làm thay đổi toàn bộ xã hội về mọi mặt, trong đó có văn học. Thế là năm 1945 đã mở ra một giai đoạn văn học mới và tất nhiên là phải khép lại giai đoạn đƣợc mở ra từ 1930. Phải lƣu ý rằng trong giai đoạn 1930 - 1945 cũng có những nhà thơ không thuộc Thơ mới, chẳng hạn nhƣ: Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải.

đã sáng tác thơ từ những năm 20, sau năm 1930 cũng tiếp tục làm thơ, vẫn tiếp tục mạch thơ cũ. Còn Tú Mỡ cùng Đỗ Phồn và nhiều nhà thơ trào phúng khác trong giai đoạn này không thể xếp vào phạm trù Thơ mới. Chính Hoài Thanh và Hoài Chân cũng không tuyển thơ của Tú Mỡ trong Thi nhân Việt Nam. Quả thật, thơ Tú Mỡ mang hình thức truyền thống với nội dung đả kích, trào phúng.

Riêng Tố Hữu là trƣờng hợp đặc biệt, làm thơ từ những năm 1937 khi phong trào Thơ mới phát triển ở đỉnh cao. Tác giả ý thức rằng khuôn phép thơ cũ gò bó, khó mà nói hết đƣợc nhịp sống mới mẻ của thời đại, nếu nhƣ không có một hình thức khác phóng khoáng hơn - hình thức Thơ mới. Từ ấy đƣợc sáng tác với ý thức nhƣ vậy. Cho nên Xuân Diệu mới cho rằng thơ Tố Hữu trƣớc 1945 thoát thai từ phong trào Thơ mới.

Nhƣng thơ Tố Hữu khác Thơ mới ở chỗ: thi hứng hoàn toàn khác và mới, một thi hứng của tình cảm, tƣ tƣởng cách mạng dƣợc biểu hiện dƣới hình thức Thơ mới. Trên quỹ đạo của hình thức Thơ đƣơng thời, Tố Hữu đã phát hiện lại cái tôi nhiệt huyết cảm tính, đem cái tôi cá nhân gắn với cái ta đoàn thể quần chúng, tạo ra những vần thơ bay bổng và sức mạnh. Nhƣ vậy, không phải trong những năm 1930 - 1945 mọi sáng tác thơ đều là Thơ mới, mà có nhiều dòng thơ cùng tồn tại. Thơ mới ra đời và nhanh chóng chiếm đƣợc ƣu thế trên thi đàn, thơ cũ cũng vì thế mà từ từ rút lui vào hậu trƣờng.

Bên cạnh đó còn có một dòng thơ sôi sục đấu tranh của các chiến sĩ cộng sản, dòng thơ cách mạng, tiêu biểu là Từ Ấy của Tố Hữu. Và một dòng nữa - dòng thơ trào phúng với Tú Mỡ. Tất cá các dòng trên sau Cách mạng tháng Tám, hợp lƣu và biến 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển thành dòng thơ cách mạng và kháng chiến sau năm 1945. Cách mạng tháng Tám thắng lợi, hầu hết các nhà Thơ mới đều đi theo cách mạng, họ tự nguyện hòa cái tôi của mình vào cái ta cộng đồng, cái ta dân tộc.

Họ đã lột xác trở thành các nhà thơ của quần chúng cách mạng. Tiếng thơ của họ không còn quanh quẩn trong vòng cái tôi tự biểu hiện mà thay vào đó là nhằm biểu hiện đời sống cách mạng, kháng chiến sôi động, hào hùng của nhân dân, của dân tộc. Rồi những nhà thơ trƣởng thành trong kháng chiến nhƣ: Chính Hữu, Trần Mai Ninh, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Bảo Định Giang, Xuân Miễn, Nguyễn Viết Lãm, Lƣu Trùng Dƣơng, Lƣơng An vv. không phải là những nhà Thơ mới.

Thơ họ khác Thơ mới, khi mà ý thức hệ thay đổi, cảm hứng về nhân dân, về cách mạng đầy ắp, dồn nén. Về thi pháp, cùng nằm trong phạm trù hiện đại nên ta có thể thấy những câu thơ, thể thơ hao hao, na ná nhƣ Thơ mới. Nhƣng thật ra sau Cách mạng thơ đã thay đổi nhiều, khi tâm hồn của quần chúng kháng chiến dâng lên nhƣ nƣớc vỡ bờ, thơ ca - nhịp đập của trái tim - đã đi tìm hình thức mới để biểu hiện. Phải nói rằng, Thơ mới là một hiện tƣợng văn học có giá trị đầu thế kỷ XX.

Nó có một phạm vi lịch sử cụ thể, từ 1930 - 1945, trƣớc nó chỉ có mầm mống, đồng thời với nó, có nhiều trào lƣu thơ không phải thuộc Thơ mới và sau 1945 càng không phải là Thơ mới. Trong phạm vi lịch sử đó, Thơ mới có sự đổi mới đồng bộ nghệ thuật thơ: thi hứng hiện đại, thi pháp hiện đại, tạo thành tựu xuất sắc trong thơ Việt Nam hiện đại, để lại dấu ấn sâu sắc rõ rệt trong thơ nhƣng không tránh khỏi hạn chế. Sự đổi mới ấy có gốc rễ rất sâu vào truyền thống. Do vậy, Thơ mới có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, là một bộ phận chứ không phải là Thơ ca hiện đại nói chung, cần đƣợc đánh giá xứng đáng.

Thơ mới đã có những cách tân mạnh mẽ về thi hứng cũng nhƣ thi pháp. Trƣớc hết, và quan trọng nhất là đổi mới thi hứng. Thi hứng Thơ mới rất phong phú, phức tạp nhƣng có cốt lõi từ thi hứng thiên về cộng đồng, cái ta, bề rộng của thi hứng trung đại và cận đại chuyển sang thi hứng về cái riêng, cái tôi, bề sâu của thi hứng hiện đại. Thơ từ chỗ nhìn ra bên ngoài, quên chính mình đến tìm hiểu chính mình mà quên bên ngoài.

Bởi vậy trong Thơ mới xuất hiện nhiều chữ tôi với tƣ cách là đại từ làm chủ ngữ để khẳng định chủ thể sáng tạo, chủ thể cảm xúc và cũng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rất nhiều từ lòng tôi nhằm giải thích trạng thái tâm lý, tình cảm của chủ thể. Trong lịch sử thơ ca Việt nam, chữ tôi chƣa bao giờ xuất hiện nhiều nhƣ thế. Điều ấy cũng dễ hiểu, cá nhân bao đời bị kìm hãm bởi tƣ tƣởng phong kiến cho nên cái tôi của nhà thơ bị chìm đắm, hòa tan trong cộng đồng gia tộc xã hội, quốc gia nay đƣợc cởi trói, đƣợc giải thoát và đƣợc khẳng định. Cá nhân đƣợc giải phóng là nhân tố quyết định sự phát triển con ngƣời và cái tôi đƣợc đề cao, đƣợc tự do, tạo điều kiện cho sự sáng tạo, sự phát triển cảm xúc.

Thơ mới không chỉ biểu hiện cái tôi bề mặt, mà điều quan trọng tạo nên cái mới là đi sâu khám phá cái tôi cảm xúc thành thật. Sự thành thật của các nhà nghệ sĩ trƣớc hết là thành thật với bản thân mình, với chính mình, và từ đó thiết lập mối quan hệ với thế giới bên ngoài, thế giới độc giả. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh cho rằng sự đổi mới cảm xúc là ở chỗ thành thực. Khát vọng thành thật trong cảm xúc của Thơ mới là khát vọng đƣợc giãi bày mọi bí mật của cõi lòng riêng tƣ, từ nỗi buồn, sự cô đơn đến ghen tuông, hờn dỗi, tình yêu, đau khổ, cả những khát khao phóng túng, phi chuẩn mực.

Chính thành thật trong cảm xúc góp phần khẳng định nhân cách nhà nghệ sĩ. Các nhà Thơ mới không chỉ thành thật trong cảm xúc mà còn sẵn sàng sống trọn vẹn, sống tận cùng với cảm xúc của mình, nhƣ một cây kim bé nhỏ bị cuốn hút vào viên đá nam châm, không cần gƣợng giữ theo lối trung dung hay tiết dục của ngƣời xƣa. Chính sống trọn vẹn, sống tận cùng cảm xúc giúp nhà thơ vƣợt lên số phận, vƣợt lên chính mình để có sức sáng tạo lớn, điều kiện để hình thành phong cách nhƣ: “Thế Lữ một hồn thơ đẹp, nhiều lúc nhìn đời theo cảnh sắc thần tiên; Lƣu Trọng Lƣ đắm đuối trong tình và mộng; Huy Thông trữ tình và bi tráng, Nguyễn Nhƣợc Pháp duyên dáng trong nhiều tình ý thơ; Vũ Đình Liên, Thái Can, Lan Sơn gợi nhiều chia sẻ yêu thƣơng với những cảnh đời ngang trái, lụi tàn.12] Song cũng cần lƣu ý rằng, sống tận cùng, sống mãnh liệt cảm xúc một mặt sẽ khám phá những tinh tế nhất của tình cảm làm phong phú giàu có hồn thơ, mặt khác khi nhà thơ đƣa đẩy cảm xúc vƣợt giới hạn đƣờng biên sẽ trở nên kỳ dị. Khi khám phá cái tôi cảm xúc, Thơ mới đi sâu quan sát tinh vi thế giới tâm linh sâu thẳm, ở đó thi nhân đặc biệt quan sát phần hồn, một biểu hiện cao khiết của sự sống.

Khác với 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhà thơ trung đại, cảm hứng về hồn thi nhân, Thơ mới khai thác phần hồn của cái tôi chủ thể. Song với cảm xúc đầy cá tính sáng tạo nên phần hồn đƣợc cảm nhận nhƣ một sự thăng hoa uẩn ức riêng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ