Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng phức tạp, phát thải khí nhà kính từ sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam chiếm trên 43% tổng lượng phát thải quốc gia, tương đương khoảng 65.000 nghìn tấn CO2 tương đương mỗi năm ở giai đoạn 2000 và đạt mức 88.400 nghìn tấn CO2 tương đương vào năm 2010 theo Báo cáo cập nhật lần thứ nhất (BUR1). Trong cơ cấu đó, hoạt động chăn nuôi gia súc là một nguồn phát thải trọng điểm với tổng lượng phát thải đạt 18.027 nghìn tấn CO2 tương đương năm 2010, chiếm 20,4% tổng phát thải của toàn ngành nông nghiệp. Phát thải chăn nuôi chủ yếu bắt nguồn từ hai quá trình sinh học chính: quá trình lên men thức ăn trong dạ cỏ động vật nhai lại sinh ra khí metan (CH4) và quá trình quản lý, xử lý chất thải hữu cơ sinh ra cả khí metan (CH4) cùng oxit nitơ (N2O).

Mặc dù lượng phát thải có quy mô lớn và tốc độ gia tăng nhanh chóng, công tác kiểm kê khí nhà kính ngành chăn nuôi tại Việt Nam trước năm 2015 vẫn chỉ dừng lại ở mức độ thử nghiệm theo khuôn khổ các dự án quốc tế ngắn hạn mà chưa có một hệ thống thể chế chính thống, đồng bộ và vận hành định kỳ hàng năm. Đề tài luận văn thạc sĩ tập trung giải quyết vấn đề then chốt: đánh giá hiện trạng năng lực, nhận diện các điểm nghẽn thể chế và kỹ thuật, từ đó thiết kế một hệ thống kiểm kê khí nhà kính chuyên biệt cho tiểu lĩnh vực chăn nuôi gia súc trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong mối liên kết chặt chẽ với Hệ thống kiểm kê khí nhà kính Quốc gia do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì.

Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn quốc với mốc dữ liệu trọng tâm từ năm 2000 đến 2010, định hướng hoàn thiện khung quản lý đến năm 2020. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp cơ sở khoa học xác thực nhằm hỗ trợ triển khai Quyết định số 3119/QĐ-BNN-KHCN về đề án giảm phát thải trong nông nghiệp hướng tới mục tiêu giảm 20% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2020, đồng thời chuẩn hóa chỉ số đo đếm, báo cáo và thẩm tra (MRV) phục vụ việc hoàn thiện các Thông báo quốc gia và báo cáo BUR nộp cho Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận kiểm kê khí nhà kính quốc tế dựa trên các tài liệu hướng dẫn chuẩn hóa của Ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), bao gồm Hướng dẫn sửa đổi năm 1996, Hướng dẫn thực hành tốt GPG 2000 và Hướng dẫn kiểm kê quốc gia năm 2006. Khung lý thuyết này phân định rõ hai nguồn phát sinh khí nhà kính chính trong chăn nuôi: (1) Quá trình lên men đường ruột - tạo ra khí CH4 qua cơ chế phân giải xenluloza của hệ vi sinh vật kỵ khí trong dạ cỏ động vật nhai lại như trâu, bò, dê; và (2) Hệ thống quản lý phân động vật - phát sinh khí CH4 trong điều kiện ủ kỵ khí cùng khí N2O qua các quá trình nitrat hóa và phản nitrat hóa.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết về sắp xếp thể chế và quản trị công theo quy định tại Điều 5.1 của Nghị định thư Kyoto và các Quyết định 1/CP.16, Quyết định 2/CP.17 của UNFCCC. Mô hình hệ thống kiểm kê được xây dựng như một cấu trúc động gồm 4 trụ cột tương tác: Sắp xếp thể chế và chức năng nhiệm vụ; Phương pháp tính toán và biểu mẫu báo cáo; Hoạt động đảm bảo chất lượng (QA) và kiểm soát chất lượng (QC); Lưu trữ dữ liệu và cải tiến chu trình. Ba khái niệm trung tâm được vận dụng xuyên suốt gồm: Số liệu hoạt động (tổng đàn, phương thức nuôi); Hệ số phát thải (theo các bậc phân cấp Tier 1 và Tier 2); và Quản lý độ không chắc chắn.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp kế thừa được áp dụng nhằm tổng hợp, phân tích các bộ dữ liệu thứ cấp từ 02 Thông báo quốc gia, Báo cáo BUR1 năm 2014, Niên giám thống kê quốc gia và hệ thống chỉ tiêu thống kê theo Quyết định số 3201/QĐ-BNN-KH. Nghiên cứu cũng kế thừa bài học kinh nghiệm về mô hình điều phối của các quốc gia phát triển như Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức và các nước có điều kiện tương đồng trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia.

Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện với quy mô cỡ mẫu gồm 50 phiếu khảo sát chuyên sâu dành cho các cán bộ quản lý, chuyên viên hoạch định chính sách và nhà nghiên cứu tại 04 đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi, Viện Chăn nuôi, Trung tâm Tin học và Thống kê, Viện Môi trường Nông nghiệp) cùng cán bộ Tổng cục Thống kê. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm tiếp cận trực tiếp các chủ thể nắm giữ dữ liệu và trực tiếp thực thi chính sách, đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy cao cho việc phân tích năng lực tổ chức.

Phương pháp tham vấn chuyên gia được tiến hành thông qua 03 hội thảo khoa học quy mô lớn do Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu tổ chức vào tháng 10/2014, tháng 3/2015 và tháng 6/2015, thu hút sự tham gia của khoảng 70 chuyên gia và nhà khoa học đầu ngành mỗi phiên để phản biện quy trình kỹ thuật, biểu mẫu báo cáo và phân định thẩm quyền quản lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả kiểm kê cho thấy năm 2010, tổng lượng phát thải khí nhà kính từ chăn nuôi gia súc tại Việt Nam đạt 18.027 nghìn tấn CO2 tương đương. Trong đó, phát thải do tiêu hóa thức ăn chiếm 9.467 nghìn tấn CO2 tương đương (52,5% phát thải chăn nuôi), với đàn bò là nguồn đóng góp lớn nhất đạt 5.399 nghìn tấn (chiếm 57,0% tiểu lĩnh vực), tiếp theo là đàn trâu với 3.322 nghìn tấn (chiếm 35,1%) và đàn lợn 575 nghìn tấn (chiếm 6,1%). Phát thải từ quản lý chất thải chăn nuôi đạt 8.560 nghìn tấn CO2 tương đương (47,5%), trong đó khí N2O chiếm ưu thế tuyệt đối với 6.240 nghìn tấn CO2 tương đương (tương ứng 72,9% phát thải từ quản lý phân), trong khi khí CH4 đóng góp 2.319 nghìn tấn CO2 tương đương (chiếm 27,1%).

Thứ hai, khảo sát xã hội học ghi nhận 100% cán bộ được hỏi (50/50 người) khẳng định tính cấp thiết phải xây dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính chuyên ngành. Về mức độ ưu tiên, có tới 70% số người (35/50 cán bộ) cho rằng ưu tiên số một là hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn pháp lý, 22% ưu tiên xây dựng biểu mẫu thu thập dữ liệu, 6% ưu tiên quy trình tính toán kỹ thuật và chỉ 2% chọn đào tạo năng lực. Đáng chú ý, 100% người được khảo sát chưa nắm rõ các chính sách, chiến lược và cơ cấu tổ chức cụ thể của hoạt động kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi.

Thứ ba, về năng lực thể chế, chỉ có 8% số ý kiến đánh giá năng lực thực thi chính sách giảm nhẹ phát thải của ngành nông nghiệp ở mức tốt và rất tốt, 32% đánh giá mức khá, trong khi có tới 52% đánh giá trung bình và 8% đánh giá kém. Về chủ thể thực hiện, 66% ý kiến khẳng định các cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có năng lực và vai trò phù hợp nhất để chủ trì kiểm kê ngành, vượt trội so với chính quyền địa phương (18%), hiệp hội ngành nghề (12%) và doanh nghiệp tư nhân (4%).

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích phản ánh rõ nét thực trạng manh mún trong cơ chế kiểm kê khí nhà kính tại Việt Nam giai đoạn khảo sát. Việc đàn bò và đàn trâu chiếm tới 92,1% tổng lượng phát thải từ tiêu hóa thức ăn hoàn toàn phù hợp với đặc điểm sinh lý học của động vật nhai lại có dạ cỏ, tương đồng với các báo cáo kiểm kê của IPCC và các quốc gia châu Á. Tuy nhiên, toàn bộ tính toán hiện tại vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào hệ số phát thải mặc định Bậc 1 (Tier 1) của IPCC 1996 sửa đổi do chưa có nghiên cứu đo đạc thực tế để thiết lập hệ số đặc trưng quốc gia (Tier 2).

Khi so sánh với mô hình quốc tế, Cộng hòa Liên bang Đức giao Cơ quan Môi trường Liên bang (UBA) làm đầu mối quốc gia và Viện Johann Heinrich von Thünen chịu trách nhiệm chuyên môn kiểm kê nông nghiệp với chuỗi dữ liệu minh bạch từ trang trại. Tương tự, Nhật Bản đã kiểm soát và giảm tới 28,7% lượng CH4 từ quản lý phân trong giai đoạn 1990-2010 nhờ hoàn thiện hệ thống thể chế thống nhất giữa Bộ Môi trường và Bộ Nông nghiệp. Tại Việt Nam, khoảng trống lớn nhất nằm ở khâu thu thập số liệu: Quyết định 3201/QĐ-BNN-KH chỉ thống kê tổng đàn gia súc định kỳ 6 tháng một lần mà hoàn toàn thiếu vắng các thông số về tỷ lệ quản lý phân (hầm biogas, ủ phân khô, xả thải lỏng hay xử lý kỵ khí).

Để phục vụ công tác quản lý và hoạch định chính sách, các bộ dữ liệu phát thải này có thể được biểu diễn trực quan hóa qua biểu đồ cột chồng phân tích cơ cấu khí phát thải (CH4 và N2O) theo từng nhóm vật nuôi, kết hợp biểu đồ tròn thể hiện mức độ sẵn sàng thể chế và bảng ma trận đối chiếu sai số giữa phương pháp Tier 1 và Tier 2.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành khung thể chế và quy chế điều phối liên ngành: Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định thành lập Hệ thống kiểm kê khí nhà kính Quốc gia. Thiết lập quy chế chia sẻ dữ liệu bắt buộc định kỳ 2 năm một lần giữa Cục Chăn nuôi, Viện Môi trường Nông nghiệp và Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, hoàn thành trước năm 2017.

Thứ hai, chuẩn hóa hệ thống biểu mẫu thu thập số liệu hoạt động: Cục Chăn nuôi phối hợp cùng Tổng cục Thống kê ban hành 02 bộ biểu mẫu thống kê chi tiết hóa cho tiểu lĩnh vực tiêu hóa thức ăn và quản lý chất thải. Đưa các chỉ tiêu về khẩu phần thức ăn, tỷ lệ sử dụng hầm biogas và hình thức xử lý chất thải vào hệ thống báo cáo của 100% các trang trại quy mô vừa và lớn trên toàn quốc trước năm 2018.

Thứ ba, nghiên cứu xây dựng hệ số phát thải đặc trưng quốc gia (Tier 2): Viện Môi trường Nông nghiệp phối hợp với Viện Chăn nuôi thực hiện các đề tài nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định hệ số phát thải CH4 và N2O cho đàn bò thịt (khoảng 5,9 triệu con), bò sữa (128,4 nghìn con) và trâu (2,0 triệu con) theo điều kiện khí hậu và dinh dưỡng của Việt Nam. Mục tiêu giảm độ không chắc chắn trong tính toán từ mức 30-50% hiện tại xuống dưới 15% vào năm 2020.

Thứ tư, thiết lập quy trình kiểm soát chất lượng (QC) và đảm bảo chất lượng (QA) 3 cấp: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành lập Tổ công tác chuyên trách kiểm kê khí nhà kính ngành, tổ chức tập huấn kỹ thuật cho trên 200 lượt cán bộ quản lý và thống kê tại 63 chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh, thành phố nhằm chuẩn hóa cơ sở dữ liệu kiểm kê phục vụ Đề án 1775/QĐ-TTg đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Chăn nuôi): Sử dụng khung thể chế đề xuất, phân định trách nhiệm 4 trụ cột và hệ thống biểu mẫu để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chuẩn hóa quy trình báo cáo kiểm kê định kỳ 2 năm một lần phục vụ nghĩa vụ quốc gia với UNFCCC.

Thứ hai, các viện nghiên cứu chuyên ngành và trường đại học: Khai thác kho dữ liệu cơ sở năm 2010 với 18.027 nghìn tấn CO2 tương đương cùng phương pháp luận IPCC để giảng dạy, phát triển các mô hình tính toán phát thải Bậc 2 (Tier 2) và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật giảm phát thải khí metan trong dinh dưỡng vật nuôi.

Thứ ba, doanh nghiệp và hợp tác xã chăn nuôi quy mô trang trại: Ứng dụng bảng chỉ tiêu kỹ thuật và phương pháp định lượng phát thải chất thải chuồng trại để thiết kế các công trình biogas, xử lý chất thải đạt chuẩn môi trường, sẵn sàng tham gia thị trường tín chỉ carbon theo Đề án 1775/QĐ-TTg.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ, đơn vị tư vấn môi trường và chuyên gia quốc tế: Sử dụng kết quả khảo sát thực trạng năng lực từ 50 cán bộ và bài học so sánh quốc tế (Nhật Bản, Đức, Thái Lan) để xây dựng các đề án hỗ trợ kỹ thuật, tài trợ NAMA ngành nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao chăn nuôi gia súc lại là nguồn phát thải khí nhà kính lớn trong nông nghiệp? Chăn nuôi gia súc phát thải lượng lớn khí nhà kính do quá trình lên men dạ cỏ của động vật nhai lại sinh ra khí metan (năm 2010 đạt 9.467 nghìn tấn CO2 tương đương) và quá trình phân hủy kỵ khí chất thải phát sinh khí CH4 cùng N2O (đạt 8.560 nghìn tấn CO2 tương đương). Tổng phát thải chăn nuôi chiếm 20,4% phát thải ngành nông nghiệp.

Hệ thống kiểm kê khí nhà kính chăn nuôi tại Việt Nam áp dụng phương pháp luận nào? Việt Nam chủ yếu áp dụng phương pháp Bậc 1 (Tier 1) theo Hướng dẫn kiểm kê năm 1996 sửa đổi và GPG 2000 của IPCC. Phương pháp này nhân số lượng đầu gia súc theo số liệu thống kê định kỳ với hệ số phát thải mặc định quốc tế do chưa có hệ số phát thải đặc trưng quốc gia.

Rào cản lớn nhất trong việc xây dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính chăn nuôi là gì? Khảo sát 50 cán bộ quản lý cho thấy 70% xác định điểm nghẽn lớn nhất là thiếu hành lang pháp lý và văn bản hướng dẫn cụ thể. Ngoài ra, 100% cán bộ chưa nắm bắt được cơ chế tổ chức kiểm kê ngành, trong khi số liệu thống kê hiện hành chưa thu thập thông tin về công nghệ quản lý phân.

Làm thế nào để nâng cao độ chính xác từ phương pháp Bậc 1 lên Bậc 2 trong kiểm kê? Cần tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm đo đạc khẩu phần ăn, năng lượng tổng số và tỷ lệ tiêu hóa của 5,9 triệu con bò thịt và 2,0 triệu con trâu tại các vùng sinh thái. Việc này giúp xác định hệ số phát thải riêng của Việt Nam, giảm độ không chắc chắn từ trên 30% xuống dưới 15%.

Kiểm kê khí nhà kính ngành chăn nuôi đóng góp gì cho các cam kết quốc tế của Việt Nam? Kiểm kê định kỳ cung cấp dữ liệu minh bạch, nhất quán để xây dựng Báo cáo cập nhật hai năm một lần (BUR) và Thông báo quốc gia nộp cho UNFCCC theo Quyết định 2/CP.17. Đồng thời, đây là căn cứ đo lường mức giảm phát thải trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa toàn diện bức tranh phát thải khí nhà kính ngành chăn nuôi năm 2010 với tổng lượng 18.027 nghìn tấn CO2 tương đương, chiếm 20,4% tổng phát thải nông nghiệp.
  • Phát hiện khoảng trống lớn về thể chế khi 100% cán bộ khảo sát chưa nắm rõ chính sách kiểm kê ngành và 70% ưu tiên hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật.
  • Đề xuất hoàn chỉnh mô hình sắp xếp thể chế phân định rõ trách nhiệm giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường (cơ quan đầu mối) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (cơ quan chuyên ngành).
  • Chuẩn hóa hệ thống 02 bộ biểu mẫu thu thập số liệu hoạt động và thiết lập lộ trình nghiên cứu hệ số phát thải Bậc 2 giai đoạn 2018-2020.
  • Xây dựng quy trình đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng (QA/QC) 3 cấp nhằm tăng cường tính minh bạch, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giảm 20% phát thải nông nghiệp theo Quyết định 3119/QĐ-BNN-KHCN.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần khẩn trương thể chế hóa các đề xuất của luận văn vào Nghị định về kiểm kê khí nhà kính, thúc đẩy hợp tác công - tư để chuyển đổi số liệu hoạt động chăn nuôi thành các giải pháp giảm phát thải hiệu quả.