CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE PHƯƠNG PHÁP ÔN ĐỊNH TOÀN KHÓI 1. Giới thiệu về phương pháp on định toàn khối L. Khái quát Ôn định toàn khối là quá trình sử dụng liên kết hóa chất và các chất ôn định dé thay đổi các đặc tính kỹ thuật của khối đất nhưng vẫn đảm bảo quả hiệu qua về mặt kinh tế. Mục tiêu của phương pháp 6n định toàn khối thường là dé cải thiện đặc tính địa kỹ thuật của một nên đất nào đó, hoặc dé dat được mục tiêu hiệu quả môi trường.
Đối với đất yếu, việc áp dụng các kỹ thuật ôn định toàn khối cho phép thay đổi các thuộc tính kỹ thuật và môi trường dé có thé dé xây dựng trực tiếp công trình trên nền đất đã xử lý, hoặc sử dụng như vật liệu san lap hoặc vật liệu xây dựng. Nhờ sự phát triển toàn diện của các loại chất liên kết, rất nhiều loại đất yếu có thé được xử ly 6n định tiết kiệm và hiệu quả. Tat cả các dự án áp dụng phương pháp 6n định toàn khối đều sử dụng liên kết ở dang chat liên kết hoặc chất ôn định có phản ứng hóa học với khối dat làm thay đối thuộc tính của nó. Khối lượng và chất lượng của chất liên kết được tối ưu hóa để đạt được mục tiêu đề ra thông qua kết quả khảo sát hiện trường và thí nghiệm trong phòng.
Việc kết hợp sử dụng các chất liên kết thương mại và các chất liên kết có nguồn gốc từ các phụ phẩm công nghiệp (xi lò cao, tro bay.) đem lại hiệu quả cao về kinh tế và môi trường của phương pháp ồn định toàn khối. Ôn định toàn khối là một phương pháp sử dụng chất liên kết trộn với đất yếu, dé cải thiện các đặc trưng cơ lý cho đất yếu nhằm chuyển đổi các lớp đất này thành một lớp đất tốt đồng nhất đến độ sâu thiết kế. Từ đó, hạn chế được độ lún của kết cau trong quá trình xây dựng và khai thác, nâng cao tính 6n định của công trình và giảm nhẹ nguy cơ sụp đô. Ôn định toàn khối có thể được sử dụng kết hợp với các phương pháp cải tiến đất nên khác.
Đặc biệt, khi vực cần xử lý có cau tạo địa chất gồm có các lớp trên cùng là than bùn (hoặc đất rất yêu khác) được đặt trên lớp đất sét. Khi đó, lớp đất yếu phía trên sẽ được xử lý băng phương pháp ôn định toàn khối, trong khi các lớp đất sét được xử lý bằng phương pháp khác, như cọc xi măng đất, cọc cứng. Tùy nhiệm vụ, phạm vi xử lý và điều kiện địa chất, có thể sử dụng máy trộn chuyên biệt hoặc máy trộn thông thường để trộn lẫn chất liên kết dạng bột với đất yếu cần xử ly theo phương pháp 6n định toàn khối. Nguyên tắc chung của phương pháp được trình bày trong Hình 1-1.
Thiết bị trộn được gan voi mot may dao cho phép thuc hién tốt công tác xử lý tới độ sâu 7m đến 8m. Chất liên kết được đưa vào đất thông qua hệ thống máy bơm áp lực và hệ thông vòi phun tại dau các thiết bị trộn. Trống quay có tác dụng trộn đều chất liên kết và đất. Quá trình trộn được thực hiện theo sơ dé di chuyển trồng quay từ trên xuống dưới, từ sau ra trước theo hướng di chuyển của máy thi công.
Công suất của một máy trộn sẽ quyết định tiễn độ công tác xử lý nên bang biện pháp gia cô nông. Các khu vực can xử lý có kích thước lớn thường được chia thành các khu vực nhỏ hơn, có kích thước từ 3m? đến 5 m2. Công tác xử lý, khi đó, được thực hiện riêng rẽ, triệt dé từ khối này tới khối khác. Mỗi khối nền sau khi xử lý sẽ có cường độ và độ 6n định cao hon, cho phép máy thi công di chuyền phía trên.
Trong quá trình phát triển cường độ của khối đất được gia có, có thể kết hợp với công tác đắp gia tải đặc biệt là ở các khu vực chứa than bùn và các chất hữu cơ. Hỗn hợp đất gia cô thường đạt được cường độ yêu câu sau khoảng thời gian từ 1 đến 3 tháng. Để tăng hiệu quả của công tác thi công nạo vét đất yếu, cũng có thể áp dụng phương pháp ồn định toàn khối dé xử lý sơ bộ khối đất cần đào bỏ. Phương pháp này còn được sử dụng để cô đặc, chuyển các chất ô nhiễm về dạng khối, ít hòa tan khi xử lý đất bị ô nhiễm hoặc trầm tích.
Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là ở khu vực khan hiếm vật liệu dap, có thé dùng công nghệ gia có nông dé xử lý vật liệu đất yếu rồi tái sử dụng chúng ngay tại công trường dé làm lớp nên cải thiện, hoặc làm vật liệu san lap hay cao cấp hon là vật liệu xây dựng. Điều này cho phép tiết kiệm chi phí mua vật liệu mới, giảm chi phí dao va vận chuyền dat thải ra ngoài công trường, tránh được các nguy cơ gây sạt lở hay ô nhiễm môi trường. 2 3-5 meters Preloading embankment Geotextile (reinforcement) Hình 1-1 Nguyên tac của phương pháp ôn định toàn khối và thiết bị. Các chất liên kết thông dụng nhất bao gdm xi mang, vôi, hoặc một hỗn hợp của cả hai.
Ngoài ra, có thé bổ sung một số loại khác như bột xỉ lò, tro bay hoặc thạch cao. Việc lựa chọn loại chất liên kết hoặc hỗn hợp chất liên kết phụ thuộc vào tính chất cơ ly của đất. Khối lượng chat liên kết được tối ưu hóa qua kết quả thí nghiệm trong phòng và hiện trường. Tình hình nghién cứu trong và ngoài nước 1.1 Tình hình nghiên Cứu rong nước Từ năm 2004 đến nay hàng loạt công nghệ xử lý nền đất yếu được áp dụng tại Việt Nam.
Nhu cầu nghiên cứu và phát triển công nghệ xử lý nên đất yếu ngày càng gia tăng. Thách thức chính là điều kiện đất nền phức tạp và sự hạn chế về máy móc thiết bi của nước ta. Trong những năm tới công nghệ xử lý nền đất chắc chắn sẽ không ngừng phát triển nhăm đáp ứng việc xây dựng đường, cảng biến, lan biển va công trình hạ tầng cơ sở khác. Hiện tại các công trình xây dựng trên vùng đất yếu thường bị hư hỏng bởi nguyên nhân từ nền móng là do người thiết kế lựa chọn sai giải pháp xử lý nền dat và thiết kế móng.
Trước đây, phương pháp thông dụng để xử lý nền đất yếu ở Việt Nam là dùng cừ tre và cừ tràm. Đây là giải pháp kinh tế cho công trình có điều kiện đất yếu và tải 3 trọng tương đối nhỏ. Do sự giới hạn của chiều dài cọc, nên khả năng áp dụng thực tế cũng bị hạn chế. Cần thiết đánh giá sức chịu tai và độ lún của nền được gia cố bang cọc ngăn.
Các giải pháp này chỉ có tác dụng cho công trình nhà ở độc lập. Phương pháp gia tải trước thường là giải pháp công nghệ kinh tế nhất để xử lý nền đất yếu. Trong một số trường hợp phương pháp chat tải trước không dùng giếng thoát nước thăng đứng vẫn thành công nếu điều kiện thời gian và đất nên cho phép. Tải trọng gia tải trước có thể bằng hoặc lớn hơn tải trọng công trình trong tương lai.
Trong thời gian chất tải độ lún và áp lực nước được quan trắc. Lớp đất đắp để gia tải được dỡ khi độ lún kết thúc hoặc đã cơ bản xảy ra. Phương pháp gia tải trước được dùng dé xử lý nền móng của Rạp xiếc Trung ương (Hà Nội) , Viện nhi Thuy Điền (Hà Nội), Trường Đại học Hàng Hải (Hải Phòng) và một loạt công trình tại phía Nam. Gia tải trước là công nghệ đơn giản, tuy vậy cần thiết phải khảo sát đất nền một cách chỉ tiết.
Một số lớp đất mỏng, xen kẹp khó xác định băng các phương pháp thông thường. Nên sử dụng thiết bị xuyên tĩnh có đo áp lực nước lỗ rỗng đông thời khoan lẫy mẫu liên tục. Trong một số trường hợp do thời gian gia tải ngắn, thiếu độ quan trac và đánh giá day đủ, nên sau khi xây dựng công trình, đất nên tiếp tục bị lún và công trình bị hư hỏng. Coc đất — vôi, đất — xi măng nên được dùng rộng rãi dé gia có sâu đất nền.
Đây là giải pháp hữu ích, nhăm tăng cường độ của nên. Từ các tiêu chuẩn của Mỹ, các nước châu Âu, Tiêu chuẩn Việt Nam cũng dé cập đến van dé 6n định khối lượng. Gia cô nền đất yếu băng phương pháp trụ xi măng - đất cũng đã đề cập về xử lý toàn khối. Ngày 28/11/2015, tại Hà Nội, Bộ Xây dựng tổ chức hội thảo về “Xây dựng Tiêu chuẩn xử lý nén đất yếu - Phương pháp xử lý nông và giới thiệu công nghệ xử lý nền đất yếu theo phương pháp ốn định toàn khối".
Công ty BCX đã được Tập đoàn Bitexco giao nhiệm vụ chuyên giao, phát triên và ứng dụng rộng rãi công nghệ gia 4 cô toàn khối, xử lý nên đất yếu theo phương pháp 6n định toàn khối từ Phan Lan dé áp dụng tại Việt Nam.” Thuận tiện thi công, thân thiện môi trường, phát triển bền vững: -: phù hợp áp dụng rộng rãi ở Việt Nam là những ưu điểm nỗi bật của công nghệ xử lý nền đất yếu toàn khối , được các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng ghi nhận khi tham gia thực nghiệm thực tế tại hiện trường. Tran Dinh Hà, Giới thiệu phương pháp xử lý nông và công nghệ xử lý nền đất yếu theo phương pháp ôn định toàn khối. Nêu ý kiến của PGS TS. Nguyễn Bá Kế, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ Xây dựng Nghiên cứu, đất sau khi trộn với chất kết dính, dưới tác dụng của các phản ứng hóa học thì hỗn hợp này sẽ cứng chắc dan và cường độ đất gia cố sẽ phát triển theo thời gian để cuối cùng trở thành một loại bê tông mác thấp; có thé gia tải dé tăng hiệu quả làm chặt đất gia có.
Việt Nam nên lựa chọn và áp dụng công nghệ trên vì nhu cầu đang rất lớn dé áp dụng cho công trình đường bộ ở nông thôn qua vùng sinh lay, xử lý những vị trí đi qua nên dat than bùn, khu nhà vượt lũ ở đồng bằng sông Cửu Long, đê biển hoặc kè phòng giảm thiệt hại do biến đối khí hậu, kè chống sát lở bờ sông, nhà thấp tầng trên vùng đất yếu, quây giữ chồng 6 nhiễm các bãi thải rác, khu nghĩa trang: 1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước. Soil Stabilization for Road and Airfield, 2012. Dang trên Tap chi Dai hoc Công nghệ Lulea, Thụy Điền năm 2012.