Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Thực trạng và định hướng vận dụng các phương thức tạo hàm ngôn trong dạy học những tác phẩm của Nam Cao ở trung học phổ thông Chương 3: Đề xuất phương pháp, thiết kế giáo án và thực nghiệm. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Cơ sở ngôn ngữ 1. Thuật ngữ hàm ngôn và các thuật ngữ hữu quan 1.
Nghĩa hàm ẩn Một phát ngôn ngoài ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ (âm, từ, kết cấu cú pháp) được gọi là ý nghĩa tường minh (có tác giả gọi là hiển ngôn, hay ý nghĩa theo âm chữ của phát ngôn) còn có nhiều ý nghĩa khác nữa mà người nghe phải dùng đến thao tác suy ý (isference) dựa vào ngữ cảnh và các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại. mới nắm bắt được. Ví dụ: Phát ngôn : "Thôi, kẻ cắp chả dám ở chung với người. Để tôi lên chợ Đồng Xuân tôi ở" ("Mất cái ví" – Nguyễn Công Hoan) Phát ngôn trên có ý nghĩa tường minh là: Kẻ cắp không dám ở cùng người, tôi lên chợ Đồng Xuân ở.
Ngoài ra phát ngôn trên còn có ý nghĩa khác: Chúng mày bố láo, dám nghi cho ông lấy cắp ví của chúng mày, vậy thì ông về, không thèm chơi với chúng mày nữa. Ý nghĩa này không phải có thể tìm được qua các câu chữ mà chỉ có thể suy ra từ tiền giả định (người đang nói và đối tượng nghe câu nói này đang "ở chung", nơi ở không phải là chợ Đồng Xuân), từ ngữ cảnh (ông Tham mất cái ví, con sen, thằng bếp đều có yếu tố ngoại phạm, bà Tham và ông Tham không thể lấy tiền của chính mình theo cách lập luận của ông Tham, vậy chỉ còn ông cụ đang ở chơi cùng nhà); từ quy tắc điều khiển lập luận (người phát ngôn sử dụng câu thành ngữ đương thời "kẻ cắp chợ Đồng Xuân" chỉ những hành động nhanh, tinh vi của những người hành nghề bất chính – nghề trộm cắp tại chợ Đồng Xuân). Như vậy, có thể thấy: nghĩa thứ hai của phát ngôn trên không thể tìm thấy qua câu chữ mà phải suy ra từ các yếu tố khác. Những ý nghĩa ấy gọi là nghĩa hàm ẩn.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi nghiên cứu về ngữ dụng học, các nhà ngôn ngữ đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về nghĩa hàm ẩn như chúng tôi đã giới thiệu trong lịch sử của vấn đề đang nghiên cứu, tuy nhiên tất cả các ý kiến đều gặp nhau ở một điểm: Nghĩa hàm ẩn là nghĩa ngoài câu chữ. Quan niệm về nghĩa hàm ẩn ngắn gọn và giàu sức thuyết phục là: "các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là ý nghĩa hàm ẩn" [12, tr. Như vậy, ý nghĩa hàm ẩn được hiểu là những nội dung được tiếp nhận nhiều hơn, nằm ngoài những gì được truyền báo qua phát ngôn. Phân loại nghĩa hàm ẩn: Theo các nhà ngôn ngữ, ý nghĩa hàm ẩn có thể chia làm hai loại là tiền giả định và các hàm ngôn (còn gọi là hàm ý, ẩn ý).
Tiền giả định Tiền giả định là gì? Theo G. Frege, tiền giả định của một mệnh đề là các điều kiện có thể xây dựng được giá trị chân lí (đúng hoặc sai) của mệnh đề đó. Nguyễn Đức Dân quan niệm, tiền giả định là một phổ niệm trong ngôn ngữ. Thứ tiếng nào cũng có những từ, những câu chứa tiền giả định.
Loại thông tin này không được nói rõ ra trong câu nhưng bao giờ người ta cũng nhận ra nó. Khi nói tới tiền giả định, Nguyễn Thiện Giáp lại nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của tiền đề đối với phát ngôn: "Tiền đề là những mệnh đề (proposition) mà tính chân thực của chúng dùng để đảm bảo cho phát ngôn của ngôn bản, những mệnh đề mà thiếu chúng thì phát ngôn không thể được coi là có giá trị" [10, tr. Đỗ Hữu Châu và tác giả Đỗ Việt Hùng đều chung một quan điểm thống nhất: Tiền giả định là "những căn cứ cần thiết để người nói tạo ra ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình" [12, tr. Ví dụ: " – Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!" (" Lão Hạc" – Nam Cao) Tiền giả định của phát ngôn này là: Lão Hạc (nhân vật xưng "tôi") đang có con chó.
Tuy nhiên, nội dung chính của phát ngôn không phải như vậy mà là thông báo về việc sẽ bán con chó. Nếu lão Hạc không có con chó thì không thể có việc lão định sẽ bán con chó. Như vậy tiền giả định không 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuộc bộ phận thông báo chính, không tạo nội dung chính của lời nói mà là nội dung, điều kiện cho lời nói được tạo ra có ý nghĩa. Có thể hiểu, tiền giả định là những điều được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận.
Hàm ngôn Hàm ngôn là gì? Nếu tiền giả định là những hiểu biết có sẵn ở cả hai phía (người nói, người viết và người nghe, người đọc – những nhân tố cơ bản của cuộc giao tiếp) thì hàm ngôn là những ý hiểu sau cùng (của cuộc giao tiếp). Nó là kết quả của sự suy ý. Ví dụ: Cứ bảo tuổi sửu có được không? Đồn rằng có một ông quan huyện rất thanh liêm, không ăn của đút lót bao giờ. Bà huyện thấy tính chồng như vậy càng không dám nhận lễ của ai.
Có làng nọ muốn nhờ quan huyện bênh cho được kiện nhưng mang lễ vật gì đến quan cũng gạt đi hết. Họ mới tìm cách đút lót với bà huyện. Dân nằn nì mãi, bà nể tình mới bày cách: - Quan huyện nhà tôi tuổi "tí", dân làng đã có ý như vậy thì hãy về đúc một con chuột bạc đến đây, rồi tôi thứ cố nói giùm cho, họa may được chăng! Dân làng nghe lời, về đúc một con chuột cống thật to, ruột đặc, toàn bằng bạc đem đến. Một hôm, ông huyện trông thấy con chuột bạc mới hỏi đâu ra, bà huyện liền đem tình đầu kể lại.
Nghe xong, ông huyện mắng: - Sao mà ngốc vậy! Sao lại bảo tôi tuổi "tí", cứ bảo tuổi "sửu" có được không? (Truyện cười dân gian Việt Nam) Bóc lột, vơ vét của dân đã trở thành bản chất của quan tham trong xã hội phong kiến. Tuy nhiên các quan lại lại dùng vỏ bọc "thanh liêm" để che đậy. Câu mắng của ông quan huyện kết thúc câu chuyện chứa đầy hàm ngôn: Ông trách vợ nhận ít quá, con chuột bạc quá nhỏ với lòng tham của ông, ông muốn có bạc to bằng con trâu kia. Qua lời trách của quan và ngữ cảnh cụ thể của câu truyện, người đọc có thể suy ý: Đây là ông quan có lòng tham vô độ, muốn có bạc gấp nhiều lần cái đang có.
Sự thanh liêm của quan qua lời đồn 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và qua sự xác nhận của bà huyện chỉ là vỏ bên ngoài hào nhoáng, che đậy bản chất tham lam bên trong. Như vậy có thể kết luận: "Hàm ngôn là những nội dung ý nghĩa không được biểu hiện trực tiếp bằng từ ngữ mà có thể suy ra từ ý nghĩa tường minh, tiền giả định và hoàn cảnh giao tiếp (ngữ cảnh)"[12, tr. Phân biệt tiền giả định và hàm ngôn Tiền giả định và hàm ngôn "cùng nằm trong một phạm trù lớn hơn: phạm trù nghĩa hàm ẩn của phát ngôn"[12, tr. 365] bởi chúng đều không được nói ra một cách tường minh, chúng chỉ có thể nắm bắt được nhờ thao tác suy ý.
Tuy nhiên phân biệt giữa tiền giả định và hàm ngôn vẫn còn là vấn đề lớn của ngữ dụng học bởi có khá nhiều trường hợp "nhập nhằng" [4, tr. 365], khó có thể phân biệt rõ ràng. Sự phân biệt này có thể dựa trên nhiều bình diện khác nhau, dưới đây là một số đặc điểm có thể dựa vào đó để phân biệt: 1.Quan hệ với ý nghĩa tường minh Tiền giả định là các hiểu biết được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào chúng mà người nói tạo nên ý nghĩa tường minh trong phát ngôn. Ví dụ: "Pá Tra bước ra hỏi: - Mất mấy con bò? A Phủ trả lời tự nhiên: - Tôi về lấy súng, thế nào cũng bắn được, con hổ này to lắm." ( Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) Tiền giả định của phát ngôn trên là: - A Phủ phải đi ở chăn bò trừ nợ cho thống lí Pá Tra - A Phủ để hổ vồ mất một con bò của nhà thống lí Nếu không có các tiền giả định sẽ không có các ý nghĩa tường minh là - Thống lí Pá Tra muốn biết mất mấy con bò - A Phủ về lấy súng bắn hổ 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các ý nghĩa tường minh này được tạo ra dựa trên những tiền giả định nêu trên.
Hàm ngôn là những hiểu biết hàm ẩn có thể suy ra từ ý nghĩa tường minh và tiền giả định của ý nghĩa tường minh. Nếu không có ý nghĩa tường minh và tiền giả định của nó thì không thể suy ra được hàm ngôn thích hợp. Nghĩa tường minh và tiền giả định của nghĩa tường minh ấy là căn cứ để chúng ta xác định nghĩa hàm ngôn. Hoàng Tuệ nhấn mạnh quan hệ mật thiết giữa hàm ngôn và hiển ngôn: "có hiển ngôn là có hàm ngôn.
Nếu không có hàm ngôn thì không cần đặt ra vấn đề hiển ngôn làm gì"[54, tr. Quay lại ví dụ trên ta sẽ thấy rõ điều này: Trong câu trả lời, A Phủ không trả lời trực tiếp vào câu hỏi của thống lí mà trả lời bằng cách nói ra ý định của mình. Bằng cách đó, câu nói đạt được những hàm ý: - Vẫn thừa nhận việc để mất bò. - Muốn lấy công chuộc tội - Sẽ mang lại lợi ích to lớn hơn cho nhà thống lí Pá Tra.
Hàm ngôn trong câu trả lời của A Phủ được suy ra từ ý nghĩa tường minh và các tiền giả định của những ý nghĩa tường minh nêu trên.Quan hệ với ngữ cảnh giao tiếp và các lẽ thường (topos) Tiền giả định là cơ sở tạo ra nghĩa tường minh của phát ngôn nên tiền giả định ít lệ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp còn hàm ngôn phụ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh giao tiếp. Hơn nữa, hàm ngôn còn phải dựa vào các topos nhưng tiền giả định thì không dựa vào topos nào cả. Ví dụ : " Tàu đến rồi!