CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Những vấn đề cơ bản về sáng tạo 1. Khái niệm sáng tạo Sáng tạo được hình thành trong các hoạt động của con người, nó là sự nhìn nhận được những mối liên hệ, những quy luật đang hiện hữu trong các đồ vật, các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy chưa được xảy ra trước đó. Đồng thời, sự sáng tạo của chủ thể được vận dụng để làm ra các đồ vật mới có ích, ý nghĩa cho cuộc sống của nhân loại.
Sáng tạo có ứng dụng cần thiết nhưng cũng phải tuân theo những quy luật, quy tắc được khẳng định trước đó. Các nhà tâm lý học định nghĩa sáng tạo theo nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống. Trước nhất là tính nhiều mặt của sáng tạo đã được các nhà tâm lý học tìm thấy, các mặt của sáng tạo luôn tồn tại cùng các hoạt động của con người hay nói cách khác là các mặt, các góc độ của sáng tạo được thể hiện như chính bản chất của con người và nó tồn tại dưới mọi lứa tuổi, trong các nền văn hóa trên thế giới. Năng lực, khả năng sáng tạo được đánh giá bằng các sản phẩm của quá trình sáng tạo.
Sáng tạo là một sự việc xảy ra trong quá trình xử lý một tình huống nào của mọi lĩnh vực trong đời sống thực tế mà ở đó các sự việc được xử lý một cách mới mẻ, độc đáo, … Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về sáng tạo, ở mỗi cách tiếp cận và mục đích của các tác giả như: Guilford (1967) và Arnold (1964) cho rằng để giải quyết vấn đề trong mỗi tình huống thì điều thiết yếu là chủ thể phải sáng tạo nên có thể thấy sáng tạo như một quá trình giải quyết vấn đề. Bằng kiến thức đã được tích lũy con người giải quyết, chuyển hóa một vấn đề trong thực tiễn thành một sản phẩm mới phù hợp với đời sống [31, tr. Trong tâm lý học, quá trình hình thành cái mới, năng lực tạo ra cái mới, được đánh giá trên cơ sở sản phẩm mới, có giá trị và độc đáo [4, tr 20]. Sáng tạo đơn giản là dám thách thức những ý kiến mà mọi người chấp nhận từ trước để tìm ra các phương pháp hay khái niệm mới [4, tr 6].
7 Bằng cách nhìn nhận sáng tạo dưới góc độ sản phẩm một số nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm của mình như sau: Lubart (2004) cho rằng sáng tạo là năng lực tạo ra sản phẩm mới, độc đáo và nguyên bản. Thể hiện ở chỗ chủ thể lần đầu đưa ra sản phẩm mới nhưng bản chất sản phẩm đã có trong nhân loại; sản phẩm mới, nguyên bản cho một nhóm chủ thể hay toàn bộ loài người khi cái mới đó lần đầu được đưa ra đối với nhân loại [17, tr. Cũng định nghĩa sáng tạo dưới dạng sản phẩm Ghiselin (1956) cho rằng: “Sản phẩm sáng tạo là dạng cấu trúc mới nhất của thế giới kinh nghiệm được tạo nên bằng sự cấu trúc lại thế giới kinh nghiệm đã có trước đó, thể hiện rõ nhất sự nhận thức của chủ thể sáng tạo về thế giới và bản thân cũng như quan hệ giữa anh ta với thế giới ấy”. Một sản phẩm có tính sáng tạo lớn khi nó được áp dụng rộng càng rộng [20, tr.
Nguyễn Lân (1998) cho rằng: “Sáng tạo là đưa ra cái mới lần đầu tiên và thực hiện cái mới lần đầu tiên” [17, tr. Dương Xuân Bảo (2009) lại cho rằng: Sáng tạo là tạo ra cái mới và cái mới đó đem lại lợi ích lớn hơn cái cũ [2, tr. Còn tác giả Phan Dũng (2010) cho rằng: Sáng tạo được dùng để đưa ra những sản phẩm mới và có ích cho đời sống con người (hoạt động tạo ra bất kì cái gì có tính mới và tính ích lợi) [7, tr. Phạm Minh Hạc (2012) có quan điểm sáng tạo là năng lực tạo ra cái mới, vượt trên tầm hiểu biết, bỏ qua những quan điểm, tư tưởng lạc hậu, sai lầm không phù hợp với thực tiễn qua ở thời điểm hiện tại; có khả năng vượt qua các thách thức đòi hỏi phải có các cách giải mới mang tính chiến lược, chiến thuật mới, mở ra hướng đi mới ở tầm quốc gia, thế giới.
Dưới góc độ nhỏ hơn làm việc gì cũng cần sáng kiến, óc sáng tạo, cải tiến, … trong sản xuất từ đó mới nâng cao được năng suất lao động, tăng lợi nhuận, trong công tác quản lý mới tăng hiệu quả cho cả tập thể [12, tr. Trong từ điển triết học, sáng tạo là việc con người tạo ra các giá trị tinh thần, vật chất được xác định trong các loại hình nghề nghiệp [44, tr. Theo các quan điểm trên, chúng tôi định nghĩa: Sáng tạo là những giá trị 8 tinh thần, vật chất của riêng mỗi con người được xác định trong mỗi loại hình nghề nghiệp. Sáng tạo là trình tự phát triển từ những điều mới từ đó đưa ra những ý tưởng, hướng đi có tính mới.
Sáng tạo là sự vượt qua những rào cản, định kiến của xã hội để đưa ra các khái niệm mới trong quá trình giải quyết các vấn đề trong đời sống thực tiễn. Những người có khả năng tập trung cao, thông minh, có tinh thần kỷ luật, mơ mộng, thực tế, hướng ngoại, hướng nội, khách quan, có quan điểm lập trường, không bị chi phối bởi các định kiến và không ngại rủi ro khi làm việc là những người sáng tạo. Tóm tại, ở mỗi người tính sáng tạo luôn song hành với nhân cách và phẩm chất. Trong học tập, để phát triển tính sáng tạo của mình HS cần có sự hứng thú, kiên trì học tập, độc lập, tự tin, mở rộng, sẵn sàng chịu rủi ro và không bị ràng buộc bởi những quan điểm lối mòn.
Quá trình sáng tạo Theo quan điểm của các nhà khoa học về sáng tạo đưa ra quan điểm chung về quá trình sáng tạo gồm nhiều bước theo các biểu hiện tâm lý như trực giác và lôgic. Các biểu hiện này rất đặc trưng, có thể đảm bảo tạo ra các sản phẩm sáng tạo. Theo mô hình kinh điển của Wallas (1926), quá trình ST có thể bao gồm những bước chính sau: (a) Chuẩn bị (preparation); (b) Ấp ủ (incubation); (c) Thấu hiểu (illumination); (d) Đánh giá và cụ thể hóa (elaboration)” [19, tr. Chuẩn bị (preparation) Giai đoạn chuẩn bị là giai đoạn quan trọng, mất nhiều thời gian và chịu sự ràng buộc của chủ thể sáng tạo tiếp nhận tình huống có nghiêm túc không.
Nội dung chuẩn bị bao gồm các nội dung kiến thức, kĩ năng, phương pháp về các lĩnh vực liên quan. Việc chuẩn bị nghiêm túc, nhận thức về vấn đề sâu sắc đánh giá sự đam mê và cống hiến cho vấn đề liên quan. Những vấn đề mà chủ thể đam mê, hưng phấn có thể được khuyến khích bởi giải thưởng hay sự chi phối nào đó. Khi vấn đề được xác định và suy nghĩ, thời gian của chủ thể dành 9 nhiều cho việc chuẩn bị là lúc giai đoạn ấp ủ xuất hiện.
Ấp ủ (incubation) Trong giai đoạn ấp ủ các ý tưởng chưa xuất hiện mà có được từ sự trăn trở, thích thú, đam mê, quyết tâm hay sự chi phối của kết quả dẫn đến việc tranh luận, thu thập thông tin. Sự ấp ủ thể hiện ở sự quyết liệt trong làm việc nhóm, trao đổi với những chủ thể liên quan. Khi ý tưởng của các chủ thể liên kết với nhau thì từ đó những kết nối xuất hiện, ý tưởng sáng tạo xuất hiện từ đó giai đoạn thấu hiểu bắt đầu. Thấu hiểu (illumination) Trong bước này các ý tưởng được xuất hiện.
Khi vấn đề được trả lời và giải quyết một cách thông suốt, chủ thể kích thích khi những vấn đề được trăn trở, suy nghĩ rất nhiều. Có thể thấy ý tưởng xuất hiện là kết quả của giai đoạn ấp ủ. Nếu làm việc không chăm chỉ khi chuẩn bị, không có sự chuẩn bị trước đó thì không có thời điểm ý tưởng sáng tạo bất ngờ như vậy. Đánh giá cụ thể hóa (elaboration) Khi chủ thể có ý tưởng bất ngờ, ý tưởng đó có thể trả lời được thỏa mãn được những mong muốn để giải quyết vấn đề hay không? Đây là nội dung mà chủ thể cảm xúc nhất khi các ý tưởng đó có mới lạ không? Có đồng nghiệp có quan điểm gì trước ý tưởng đó không? Bản thân đã am hiểu và đưa ra kết quả cho bản thân.
Đánh giá cụ thể hóa ý tưởng là một trong những giai đoạn gồm nhiều công việc nặng nhọc và mất nhiều thời gian nhất. Theo quan điểm của Edison thì sáng tạo bao gồm một phần nhỏ sự hứng khởi còn lại là do làm việc kiên trì mà có. Quá trình sáng tạo kết thúc bằng việc đánh giá cụ thể hóa ý tưởng, từ đó các ý tưởng được diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường để mọi người có thể hiểu được. Do sáng tạo không hình thành theo một đường thẳng mà những vấn đề còn được lặp đi lặp lại rất nhiều, xử lý nhiều lần trước khi ý tưởng sáng tạo được hình thành từ đó mới xuất hiện điều thấu hiểu, qua đó ta thấy quá trình sáng tạo được hình thành mất rất nhiều thời gian và sự kiên trì mà có.
10 Amabile (183a) dựa theo quan điểm của Wallas và tách bước đánh giá và cụ thể hóa thành kiểm tra ý tưởng và đánh giá ý tưởng từ đó đề xuất mô hình quá trình sáng tạo gồm 5 bước: Sự xuất hiện vấn đề; Chuẩn bị; Sản sinh ý tưởng; Kiểm tra ý tưởng; Đánh giá sản phẩm. Tóm lại, mô hình quá trình sáng tạo được đưa ra từ các quan điểm trên đều gắn liền với các bước, có sự phân tách nhưng chung quy lại đều chứa các nội dung như xác định vấn đề hay cơ hội, thu thập thông tin, hình thành ý tưởng và đánh giá. Quá trình sáng tạo không phải lúc nào cũng đưa ra các sản phẩm sáng tạo nhưng nó là điều kiện cốt lõi dẫn đến hình thành các ý tưởng và sản phẩm sáng tạo. Năng lực sáng tạo của học sinh 1.
Quan niệm về năng lực sáng tạo, năng lực sáng tạo của học sinh Năng lực sáng tạo có nhiều quan niệm hình thành từ nhiều cách tiếp cận khác nhau. Dưới góc độ tâm lý học, Guilford (1967) cho rằng: Năng lực sáng tạo mang tính chất cá nhân, được sử dụng trong những lĩnh vực, góc độ khác nhau mà không cố định cho một bộ môn nào, nhưng năng lực sáng tạo thể hiện rõ thông qua các năng lực chung [31]. Theo quan điểm của Vygotsky, L.